BƯỞI HỒNG MÙA HẠ – Chương 10

Editor: Team  Phong Tâm
Beta: Phong Tâm

—

Chương 10: Chú cún gấu màu xanh

Tiết thực hành trên máy đầu tiên thời đại học, thầy giáo yêu cầu mỗi người trước khi hết giờ phải nộp một bài vẽ để thầy nhận xét. Có lẽ lúc nghe giảng tôi mải lơ đãng thả hồn theo mây gió, nên cứ đinh ninh yêu cầu là “vẽ một con vật”, mãi đến gần lúc hết giờ mới vẽ vội một chú gấu con.

Đến lúc chuẩn bị nộp bài, tôi liếc nhìn sang hai bên rồi hỏi bạn cùng phòng: “Sao các cậu ai cũng vẽ cún thế?”

Bạn cùng phòng đáp: “Chủ đề là cún con mà cậu.”

Tôi ngớ người: “Chẳng phải là vẽ động vật à?”

Bạn bảo: “Đề bài yêu cầu vẽ chó mà.”

Thời gian chẳng còn bao nhiêu, tôi chỉ đành sửa lại chút xíu ở phần mũi và kéo dài cẳng chân trên bức vẽ ban đầu rồi vội vàng nộp lên.

Lúc nhận xét, thầy giáo nhìn tôi đầy thắc mắc: “Đây là giống chó gì thế em?”

Tôi lí nhí: “… Dạ, cún gấu ạ.”

Vẻ mặt thầy lúc ấy như muốn bảo: “Em có nghe xem mình đang nói ngôn ngữ của loài người không đấy?”

Thầy bảo: “Giống loài em bịa ra thì tôi tạm không bàn tới, nhưng cách phối màu này của em… Em từng thấy con chó màu xanh bao giờ chưa?”

Tôi đáp: “Vừa nãy thầy bảo cứ phát huy tối đa trí tưởng tượng, nên em mới cố gắng bay bổng một chút ạ. Em nghĩ làm thiết kế thì không nên bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, mà cần dũng cảm phá vỡ các quy chuẩn thông thường!”

Thầy giáo cạn lời một hồi, rồi bảo: “Nói nghe cũng có lý gớm. Thôi được rồi, coi như cho em qua, lần sau lên lớp nhớ tập trung hơn nhé. Chú ‘cún gấu’ này của em trông vẫn xấu lắm, còn nhiều chỗ phải cải thiện đấy.”

Thuở ấy Z đang học đại học ở Thượng Hải. Vừa về đến ký túc xá, tôi liền gửi tin nhắn kèm hình vẽ cho Z xem để cằn nhằn: “Cún gấu của em xấu chỗ nào chứ? Đáng yêu thế này cơ mà. Cún con màu xanh thì đã sao, đặc biệt biết bao nhiêu, màu xanh đẹp thế mà, thầy chẳng biết thưởng thức gì cả.”

Thực ra bài tập do mình vẽ qua quýt để đối phó, bản thân tôi thừa biết nó đẹp xấu ra sao, mình đã bỏ vào đấy mấy phần tâm huyết.

Thế nhưng hôm ấy, lúc nhắn tin trả lời tôi, Z đã đổi ngay ảnh đại diện WeChat sang hình chú cún gấu màu xanh ấy. Anh nhắm mắt khen lấy khen để là rất đáng yêu, còn chê thầy giáo của tôi không có mắt thẩm mỹ.

Anh cứ dùng bức tranh chú cún gấu màu xanh trong bài tập đầu tiên ấy làm ảnh đại diện mãi cho đến tận năm tư, khi bắt đầu đi thực tập mới đổi. Trước khi đổi anh còn nhắn tin giải thích với tôi trước, bảo sếp vừa nhắc nhở ảnh đại diện WeChat cần phải chững chạc, đứng đắn hơn một chút nên anh đành tạm đổi đi.

Tôi bảo: “Không sao đâu, anh cứ đổi đi, công việc là quan trọng nhất mà.”

Thực lòng tôi cũng thấy lạ lùng, một bức hình chẳng dính dáng gì đến hai chữ “đẹp đẽ” mà anh lại có thể để làm ảnh đại diện suốt một thời gian dài đến thế. Nhưng có lẽ vì Z dùng hình ảnh ấy trò chuyện với tôi quá lâu, nên dần dà nhìn mãi cũng hóa thuận mắt. Chú “cún gấu màu xanh” vốn chẳng hề tồn tại trên cõi đời này bỗng mang một nét ngơ ngác đáng yêu lạ kỳ.

Sau này khi phân ngành chuyên sâu, tôi không chọn thiết kế, nhưng đến cuối năm ba lúc đăng ký người hướng dẫn khóa luận, tôi đã chấm ngay người thầy dạy môn “chú cún gấu màu xanh” năm nào.

Tôi có cả QQ lẫn WeChat của thầy. Thầy còn rất trẻ, mới lập gia đình, dăm bữa nửa tháng lại đăng bài lên trang cá nhân, khi thì khoe ảnh đứng bếp nấu nướng cho vợ, lúc lại đăng ảnh phong cảnh đưa vợ đi chơi.

Thầy chủ nhiệm cấp ba của tôi trước kia cũng thuộc tuýp người như vậy. Tôi dường như có một suy nghĩ rất đỗi mộc mạc: Người đàn ông biết thương vợ thì dẫu có thế nào cũng chẳng thể xấu xa được, cho dù năng lực không quá xuất chúng thì cũng không bao giờ là kẻ thiếu trách nhiệm.

Người thầy tôi chọn tính tình thanh đạm, hòa nhã, chẳng mấy màng danh lợi sự nghiệp. Nhìn cách thầy đứng lớp thường ngày là đủ hiểu, thầy đích thị là bậc thầy “tàm tạm cho xong” kiêm chuyên gia “thả cửa” cho sinh viên, trong số các giảng viên hướng dẫn tốt nghiệp của khoa tôi tuyệt đối chẳng phải cái tên nổi bật.

Điều đó lại đúng trúng ý tôi.

Tôi chỉ muốn dốc chút sức lực tối thiểu để hoàn thành êm thấm đồ án và luận văn ra trường, càng ít việc càng tốt, để tôi còn dành thời gian viết tiểu thuyết.

Ngặt nỗi tôi lại nơm nớp sợ người khác cũng “tinh đời” giống mình khiến thầy bị đăng ký kín chỗ, rồi đến vòng xét duyệt hai chiều thầy lại chê tôi ngày thường chểnh mảng mà không nhận. Thế là tôi bèn canh đúng hôm thầy lên khoa họp, chạy xộc tới tìm thầy rồi tha thiết: “Thầy ơi, mấy môn chuyên ngành thầy dạy em đều học rất hào hứng. Em thực sự rất muốn được thầy hướng dẫn, xin thầy nhất định phải nhận em nhé.”

Thầy còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên làm khóa luận, cũng chưa từng thấy cảnh này bao giờ. Mấy thầy cô vừa tan họp bước ra thấy vậy liền trêu: “Thầy L khá thật đấy, sinh viên theo tận nơi nài nỉ xin theo kìa.” Bản thân thầy L khi ấy dĩ nhiên vừa ngạc nhiên vừa lộ rõ niềm vui ý nhị.

Thầy bảo: “Kinh nghiệm hướng dẫn tốt nghiệp của tôi chưa nhiều đâu, sao em lại chọn tôi? Chẳng phải mọi người đều đang tranh nhau đăng ký thầy trưởng khoa X với cô X đó sao?”

Tôi nhanh nhảu: “Em chưa từng nghĩ đến chuyện đó đâu ạ, thầy là lựa chọn đầu tiên và duy nhất của em. Thầy trưởng khoa X với cô X quả thực rất giỏi và dày dạn kinh nghiệm, nhưng với em thì hơi truyền thống quá. Em thích những ý tưởng mới mẻ, đi trước thời đại hơn. Lần đi Tượng Sơn đợt trước, em từng trò chuyện với thầy, lúc thầy giảng giải cho chúng em về bộ thiết kế của người dân tộc Di, em thấy cách thầy nhìn nhận về sự kết hợp giữa truyền thống và cách tân rất khác biệt. Bản thân em cũng muốn đi theo hướng này, nên em rất tha thiết mong được thầy nhận ạ.”

Thầy cười: “Được rồi, về đợi tin của tôi nhé. Tôi không đòi hỏi khắt khe ở sinh viên đâu, những gì tôi dặn em cứ làm theo là ra trường êm đẹp thôi.”

Nghĩ lại mới thấy, dù là chọn thầy cô hay chọn bạn bè, trong lòng tôi luôn có một thước đo chung — không đòi hỏi nhiều ở tôi, biết bao dung cho những thiếu sót, có thể đứng ra gánh vác việc chung, và khi ở cạnh nhau thì nhẹ nhõm, vui vẻ.

Ngoại trừ tiêu chí “nhẹ nhõm” đôi lúc hơi khó đạt được, thì những điều còn lại Z đều đáp ứng một cách trọn vẹn.

Hai năm trở lại đây, có lẽ vì đã trưởng thành và chín chắn hơn, đôi khi ngẫm lại và tự nhìn nhận, tôi thấy bản thân là người sống theo cảm tính vô cùng, cảm tính đến mức nhiều khi gần như ngó lơ cả sự thật rành rành.

Khi đưa ra một quyết định, con người ta chẳng thể dám chắc nó hoàn toàn đúng đắn. Việc thiếu đi sự chắc chắn ấy lại dễ khiến quyết tâm bị lung lay, nên người ta thường dùng trí tưởng tượng để liên tục phóng đại những cảm giác đúng đắn lên, cốt để tiếp thêm sự vững tâm cho chính mình.

Chẳng hạn như việc chia tay Z, rất nhiều người không đồng tình. Để bản thân không dao động, tôi cứ nhai đi nhai lại những ký ức không vui giữa hai đứa, thường xuyên kể với bạn bè về những va chạm giữa tôi và Z, xem đó như bằng chứng cho thấy tính cách đôi bên đã xung khắc đến mức không thể cứu vãn, và quyết định buông tay của tôi là hoàn toàn đúng đắn.

Hồi đó tôi hay bảo, đằng nào thì Z cũng đầy bất mãn với tôi, anh ấy đâu có thích người tính cách như tôi, anh bảo tôi sống tùy tiện quá, chẳng có kế hoạch gì, làm việc gì cũng trước quên sau nhớ.

Tôi rời đi, đối với anh là một điều may mắn.

Nhưng sự thật thì sao? Những lần tôi đãng trí nhiều không đếm xuể, vậy mà lần anh thực sự mở lời trách tôi chỉ có duy nhất một lần — hôm ấy đến điểm tham quan rồi tôi mới phát hiện mình quên mang chứng minh thư, đường quay về khách sạn lấy thì xa xôi và phiền phức vô cùng, lúc đó lại có cả bạn của Z đi cùng nữa.

Z khi ấy rất bất lực, bảo: “Em thấy đấy, lúc đi bảo kiểm tra túi đi thì chẳng nghe tôi, giờ quay về lấy thì tầm này ngoài đường chắc chắn tắc nghẽn, rồi em lại bực mình cho xem.”

Tốt lắm, chẳng cần quay về khách sạn nữa, nghe xong câu ấy là tôi đã bực mình rồi.

Bạn của Z thấy thế liền hòa giải: “Thực ra ở đây cũng chẳng có gì chơi mấy đâu, hay là thôi không về lấy nữa, hôm nay chuyển sang đi tự do nhé? Lượn phố dạo mát cũng được mà.”

Tôi nhớ sau một hồi lang thang, bữa ăn đầu tiên của cả nhóm là ở một quán cá nướng đông nghẹt phải đứng xếp hàng. Mặt tôi lúc ấy vẫn khó đăm đăm, trông như thể ai vừa nợ tiền mình vậy.

Lúc ấy tôi cứ mặc kệ mọi người mà ấm ức một mình, có lẽ là vì nghĩ: Z dám trách mình ư? Z mà lại mở miệng trách mình cơ đấy! Tôi đãng trí đấy, anh có phải mới biết ngày một ngày hai đâu? Trước đây anh có bao giờ để bụng đâu cơ chứ? Giờ lại trách tôi, anh thay đổi rồi! Hôm nay thay đổi một chút, ngày mai đổi thêm một chút, ai biết sau này anh sẽ biến thành người thế nào nữa!

Chưa hết, rủ nhau đi ăn cá nướng cay tê là có ý gì chứ?

Đúng là tôi có bảo “Em không có hứng ăn uống đâu, tùy mọi người”, quán này đông khách chắc cũng đáng thử thật, nhưng chẳng lẽ anh không biết từ bé hễ ăn cá là tôi rất dễ hóc xương sao? Đúng là anh có gắp phần ngon nhất cho tôi, còn tỉ mẩn gỡ từng cái xương giúp, nhưng việc chọn món cá nướng cay này chính là dấu hiệu cho thấy anh bắt đầu đổi thay, không còn nâng niu tôi như trước nữa rồi! Tôi cảm nhận được hết đấy!

Bây giờ nghĩ lại, tôi thậm chí muốn quay ngược thời gian để lay thật mạnh cái con người chỉ biết chìm đắm trong cảm xúc ích kỷ ấy dậy, rồi hỏi cô ta rằng: Bản thân đãng trí làm lỡ dở kế hoạch của cả nhóm, vốn dĩ lỗi rành rành là do cô. Nếu hôm ấy người đi cùng không phải là Z và những người bạn tính tình dễ chịu của anh, mà toàn là bạn thân của cô, liệu cô có dỗi hờn vô lý như thế không?

Cũng trong hoàn cảnh ấy, cô đã cư xử thế nào trước mặt bạn bè mình? Bộ dạng của cô lúc ấy là làm nũng, là nhõng nhẽo bảo: “Xin lỗi nha, tớ quên mất tiêu rồi, hôm nay ăn gì uống gì cứ để tớ bao hết, cho kẻ đoảng vị này một cơ hội nhỏ để chuộc lỗi đi mà.”

Sao đối với Z, cô lại khắt khe đến vậy? Đã không chủ động xin lỗi để dàn xếp, lại còn quay sang giận dỗi vì Z tỏ ý không vui. Phá hỏng lịch trình của người khác, người ta có chút khó chịu chẳng phải là lẽ thường tình sao? Đặt mình vào vị trí bạn của Z hôm đó, chính tôi cũng thấy ngột ngạt, bụng chắc mẩm sẽ nghĩ: Không biết rước ở đâu về cái của nợ này nữa?

Sau này có lần hai đứa cãi nhau đòi chia tay, tôi bảo đôi bên không hợp. Z nhất quyết không chịu: “Tôi không chia tay đâu, không hợp ở chỗ nào em nói rõ ra xem.”

Tôi bèn lôi chuyện quên chứng minh thư hôm ấy ra, bảo Z bất mãn với tôi, trách tôi làm việc trước sau không chu toàn, mà tôi thì vốn là người đoảng vị như thế, hai đứa quá cọc cạch, không hợp nhau.

Z nghẹn lời: “Em đãng trí mấy lần? Tôi trách em được mấy lần? Chỉ có một lần, đúng một lần ấy thôi mà em ghim trong lòng cả đời, còn những chuyện tốt tôi dành cho em thì em chẳng buồn nhớ lấy một lần.”

Đâu phải tôi không nhớ, mà là khi đã hạ quyết tâm buông tay, việc cứ vương vấn những điều tốt đẹp chỉ khiến lòng thêm dùng dằng, quyến luyến mà thôi.

Dĩ nhiên tôi nhớ rõ cái tính hay quên của mình đã được Z bao dung biết bao lần. Thậm chí chính vì Z quá nhẫn nại chiều chuộng, nên đôi khi tôi còn sinh ra ảo tưởng rằng, vì anh chẳng hề cau có nửa lời, chắc bản thân mình cũng không gây phiền toái gì lớn lắm đâu.

Nhưng thực tế thì có đấy chứ.

Tôi nhớ có lần lên Thượng Hải, tôi bảo mình không ở lại lâu đâu, để tôi tự mua vé về. Chơi được mấy hôm, đến ngày về, buổi trưa hai đứa ngồi ăn ở trung tâm thương mại gần khách sạn, Z hỏi tôi về ở ga tàu cao tốc nào để anh xem đường trước, tính toán giờ giấc chở tôi ra ga.

Lúc đến tôi xuống ga Hồng Kiều, nên buột miệng bảo luôn là ga Hồng Kiều.

Ăn xong hai đứa về dọn đồ, đến giờ Z chở tôi ra ga.

Lúc vào cửa soát vé, máy quét mãi không nhận diện được thông tin, người bên cạnh bảo tôi đi làn soát vé thủ công. Vào bên trong ngước nhìn bảng điện tử, tôi tìm mãi không thấy chuyến tàu của mình đâu, lúc ấy mới vỡ lẽ ra vừa rồi quẹt vé không được là do tôi vào nhầm ga. Chiếc vé chiều về tôi mua không phải ở ga Hồng Kiều, mà ở tận ga Thượng Hải.

Giờ chạy sang bên kia thì chắc chắn không kịp nữa, mà ở ga Hồng Kiều lúc này cũng không còn vé tàu cao tốc nào về trong ngày.

Tôi gọi điện cho Z. Z nghe xong liền dịu giọng bảo: “Không sao, nhớ nhầm ga thì nhớ nhầm thôi, có việc gì to tát đâu. Thế thì đổi sang mai hẵng về, tôi đặt lại khách sạn, ra đón em trước đã. Chỗ bãi đỗ xe lúc nãy tôi thả em xuống em còn nhớ không? Em cứ ra đấy đợi tôi, nhưng đừng xuống vội, dưới bãi xe lạnh lắm, đợi lúc nào tôi sắp tới nơi thì hẵng xuống. Giờ quay lại hơi tắc đường nên em phải đợi tôi một lát đấy, tôi đang trên đường tới đón em rồi, em ngồi nghĩ xem tối nay muốn ăn món gì đi.”

Tôi đứng đợi Z, mở phần ghi chú trong điện thoại ra viết nhật ký cho chuyến đi Thượng Hải lần này. Đoạn ghi chú dài chừng một nghìn hai trăm chữ, vừa viết xong một lát thì Z gọi tới, tôi liền đi xuống bãi đỗ xe.

Z vừa bước xuống xe đã cười: “Oa, đúng là bao nhiêu năm nay, lần này tiễn em đi rồi gặp lại em nhanh nhất đấy.”

Tôi lí nhí: “Em xin lỗi, em nhớ nhầm ga tàu mất rồi.”

Z ôm lấy tôi, vỗ về: “Không sao, em ở lại thêm một ngày tôi mừng còn chẳng hết, chuyện cỏn con thôi, em cũng đừng vì thế mà buồn.”

Năm nay gặp lại Z, nhắc đến chuyện trước kia anh thực sự không hiểu sao lại dễ chọc cho tôi nổi giận đến thế, anh liền mở album ảnh trong điện thoại, bấm mở từng tấm cho tôi xem.

Có những bức tôi từng thấy, nhưng cũng có những bức tôi chẳng hề hay biết anh chụp lại từ bao giờ. Trong nhà có, ngoài trời có, ảnh đi cưỡi ngựa, chèo thuyền, cho hươu ăn… Cứ đổi sang một bức ảnh là lại đổi sang một thành phố, lại gắn liền với một đoạn ký ức của hai đứa.

Z cười nhẹ nhõm: “Chỗ này đang cáu này, chỗ này cũng cáu này, chỗ này lại dỗi nữa này…”

Tôi cũng bật cười theo, lấy tay che mặt, trong lòng dấy lên chút cảm giác ngượng ngùng như vừa bị lôi lại đống quá khứ dở khóc dở cười năm nào.

Dĩ nhiên tôi cũng từng nghiêm túc trăn trở về điều này — tại sao trong mắt bạn bè, tôi luôn là người hiền lành, biết thấu hiểu và giỏi giải quyết mọi chuyện; vậy mà cứ hễ yêu Z, tôi lại thường xuyên biến thành một kẻ có “bộ dạng đáng ghét”, vừa cố chấp, vừa ngang bướng, lại thích làm theo ý mình đến thế?

Có lẽ bởi bản chất tôi vốn dĩ đã là một người cố chấp, ngang bướng và chỉ thích làm theo ý mình rồi. Chẳng qua vòng tròn bạn bè của tôi quá nhỏ, mọi người đều là những người cùng tính nết mới có thể chơi thân được với nhau, chúng tôi đã tự sàng lọc lẫn nhau từ trước. Cách đối nhân xử thế của mọi người đều tương đồng, nên rất khó nảy sinh va chạm để rồi vô tình làm lộ ra những thói xấu của nhau; chuyện “thấu hiểu lẫn nhau” diễn ra rất tự nhiên mà chẳng cần gắng gượng.

Chẳng hạn như có lần tôi và các bạn cùng phòng rủ nhau đi Thành Đô. Ban đầu chúng tôi cũng tính qua loa trong đầu xem sẽ đi những đâu, nào là đi ngắm gấu trúc, đi bảo tàng, đi mấy quán cà phê nổi tiếng trên mạng… Thế nhưng sau khi máy bay hạ cánh, ba đứa chúng tôi ở lì trong khách sạn suốt bốn ngày. Nhân viên khách sạn gửi cho một danh sách gợi ý quán ăn ngon quanh vùng, chúng tôi cứ theo danh sách ấy mà đi ăn thử, thấy quán nào cũng ngon tuyệt, thế là quyết định cứ bám vào đó mà thưởng thức. Thành ra suốt chuyến đi, phạm vi hoạt động của cả ba đứa chỉ quanh quẩn gần khách sạn.

Có một quán bán món bò đậu hoa ớt hiểm nướng, đến giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy thòm thèm vì hương vị thơm ngon ấy.

Còn chuyện đi ngắm gấu trúc hay đi bảo tàng thì dĩ nhiên chẳng ai buồn đoái hoài nữa, vé vào cửa mua sẵn cả rồi, nhưng cuối cùng chẳng ai đi.

Tôi nhớ sáng hôm ấy cả nhóm bị tiếng chuông báo thức đánh thức, theo kế hoạch thì ba đứa phải dậy trang điểm rồi bắt xe ra ngoài. Vệ sinh cá nhân xong xuôi, một cô bạn bỗng buột miệng: “Có thật sự phải ra ngoài không các cậu?”

Khách sạn chúng tôi ở lúc đó, chỉ cần kéo rèm ra là nhìn thẳng sang phần mông của bức tượng gấu trúc khổng lồ ở đường Xuân Hi. Cô bạn khác đứng bên cửa sổ nhìn sang rồi bảo: “Thật ra gấu trúc cũng có gì mà ngắm đâu, ở đây cũng thấy rồi, trong ba đứa mình có ai mê gấu trúc lắm đâu?”

Tôi tiếp lời bảo mình chỉ muốn đi mua mấy món đồ lưu niệm hình gấu trúc nhỏ thôi, chứ nhìn thấy gấu trúc thật hay không cũng chẳng quan trọng.

Một bạn lại bảo: “Chỗ đấy đông nghẹt, chen chúc vào chưa chắc đã thấy gì, vả lại người ta toàn đi xếp hàng từ sáng sớm, giờ tụi mình mới đi thì muộn mất rồi.”

Cô bạn kia lại bồi thêm một câu: “Thật ra quà lưu niệm thì đâu nhất thiết cứ phải vào tận sở thú mới mua được.”

Thế là cuối cùng chẳng ai đi cả, kéo rèm lại rồi leo lên giường ngủ tiếp một mạch đến chiều. Chiều dậy ba đứa mới thong dong ra ngoài mua đồ lưu niệm, tối đi spa thư giãn, trải nghiệm chút nhịp sống về đêm ở Thành Đô, thấy thỏa thuê rồi thì đặt vé máy bay về.

Tình cảnh như thế xuất hiện trong hầu hết các chuyến du lịch của ba đứa chúng tôi từ thời đại học đến nay, mọi thứ đều mang tính ngẫu hứng, tùy tiện và luôn có thể ngồi lại bàn bạc cùng nhau.

Chỉ là ở những thành phố khác, chúng tôi ít nhiều cũng sẽ ghé qua một vài địa điểm, chứ không hủy sạch toàn bộ kế hoạch như lần ấy.

Thế nhưng không có ngoại lệ, lần nào đi chơi ba đứa cũng đều vui vẻ hết nấc.

Mỗi khi nhớ lại, chúng tôi chẳng thấy tiếc nuối vì lặn lội đến một nơi xa xôi mà có món chưa kịp ăn, có cảnh chưa kịp ngắm. Mỗi lần ngồi ôn lại kỷ niệm cũ, câu cửa miệng của chúng tôi luôn là: “Lần ba đứa mình đi chơi ở chỗ đó vui thật đấy.”

Hôm đi đảo Bình Đàm, chẳng hiểu sao cả ba đứa đều quên bôi kem chống nắng. Tôi mặc chiếc váy hở lưng, tối về khách sạn thì cả mảng lưng đã đỏ ửng rát bỏng. Một cô bạn khác còn bị nặng hơn. Cạnh khách sạn hôm đó có một cửa hàng gà rán Dicos, tôi vội chạy sang xin hai túi đá lạnh mang về, thế là ba đứa cứ ngồi trong phòng vừa xuýt xoa kêu đau vừa cười nghiêng ngả.

Ở Phúc Châu, chúng tôi tìm được một quán hải sản rất ngon, có món cà tím kho củ cải muối khô tôi mê vô cùng, trước giờ chưa từng thấy cách chế biến như vậy bao giờ. Các bạn cùng phòng cũng tấm tắc khen, tôm cua ở đó món nào cũng tươi. Thế là những ngày sau chúng tôi chẳng buồn đi la cà quán nào khác, cứ ăn ở đúng quán hải sản ấy suốt hai ngày liền, trưa vừa ăn xong tối lại bắt xe đến đó ăn tiếp.

Tôi chẳng biết phải trả lời thế nào trước câu hỏi của Z: “Em thực sự ghét ra ngoài chơi đến thế à? Tôi thấy em đi chơi với bạn bè lúc nào cũng vui, sao cứ đi với tôi là lại miễn cưỡng, phụng phịu thế, rốt cuộc tôi làm chưa tốt ở điểm nào?”

Z chẳng có điểm nào chưa tốt, nhưng tôi thực sự không biết nói sao. Tôi thầm nghĩ, nếu chuyến đi đảo Bình Đàm lần ấy là đi cùng anh, bị cháy nắng như thế, chắc chắn anh sẽ xót xa cuống cuồng lên, rồi vội vàng đi mua thuốc về bôi cho tôi, còn tôi thì sẽ lại mang tâm lý như kẻ làm sai, lí nhí bảo: “Thôi mà, hôm nay em lỡ quên mất, sau này em sẽ chú ý hơn.”

Tuyệt đối sẽ không có cảnh giống như đêm hôm ấy ở khách sạn với các bạn cùng phòng, vừa xuýt xoa đau rát vừa cười phá lên, quay sang trêu nhau xem sao cả ba đứa lại ngớ ngẩn đến mức cùng quên bôi kem chống nắng.

Bởi sau khi từ Bình Đàm về, lúc Z biết chuyện, phản ứng đầu tiên của anh là xót xa, rồi bắt đầu phân tích rằng cách xử lý của tôi không đúng, chỉ chườm đá thôi là chưa đủ, phải bôi kem phục hồi, gần đó có cửa hàng tiện lợi hay hiệu thuốc thì mua tạm gel nha đam cũng được.

Tôi bảo lúc đó em chẳng nghĩ được nhiều nên mới đi xin đá lạnh, Z lại bảo da cháy nắng rất lâu lành, thế là tôi đành buông một câu: “Sau này em sẽ chú ý hơn.”

Lạ lùng thật, ngay cả sự quan tâm của anh cũng có thể dập tắt niềm vui trong tôi tích tắc.

Tôi thậm chí còn thấy hối hận vì đã kể chuyện đó cho Z nghe.

Món “cà tím kho củ cải muối khô” lần đầu được nếm thử ấy, nếu đi cùng Z, chắc chắn tôi cũng chẳng thể ăn đi ăn lại nhiều lần. Bởi vì Z là người luôn hướng tới những trải nghiệm mới, chẳng cần nghĩ cũng biết, nếu tôi bảo muốn quay lại quán lúc trưa, anh sẽ bảo: “Em không ngấy à? Sang quán mới biết đâu lại có những món ngon chẳng kém gì món ‘cà tím kho củ cải muối khô’ đang đợi em khám phá, không đi thì khéo lại bỏ lỡ mất đấy.”

Rốt cuộc, dù đi đến đâu, giữa hai chúng tôi thế nào cũng có một người cảm thấy không mấy vui vẻ.

Thế nên trong những lần hợp tan, mỗi khi tôi đòi chia tay, Z lại đau lòng, không chịu chấp nhận: “Rốt cuộc chúng mình không hợp ở chỗ nào em nói rõ ra xem.”

Tôi thực sự chẳng thể nói cho rành mạch được.

Cái cảm giác “không hợp” ấy cứ hiển hiện trong từng khoảnh khắc mà anh chẳng làm sai điều gì, còn tôi cũng không thấy mình có vấn đề gì cả. Không có ai đúng ai sai, nhưng lại chẳng thể giả vờ ngó lơ, bởi đôi bên đều đã không còn vui vẻ nữa rồi, đến cuối cùng cũng chỉ đành bảo: “Chúng mình không hợp nhau.”

Nó chẳng khác nào câu chuyện chú thỏ nhọc công tìm về củ cà rốt ngon nhất thế gian rồi nhét vào miệng con sói. Con sói vốn không muốn ăn, thậm chí còn muốn nôn ra, thế là thỏ liền nghĩ: “Củ cà rốt ngon thế này mà mày không thèm ăn, mày không phải có ý kiến với củ cà rốt, mà là có ý kiến với tao đấy chứ gì!”

Cho nên chuyện chia tay đối với hai đứa lúc ấy là điều tốt để chấm dứt chuỗi ngày giày vò lẫn nhau.

Đã là chuyện tốt thì hà cớ gì phải rơi nước mắt. Tôi gọi lần chia tay này với Z là cuộc “chia tay không đau đớn”, và tôi cũng khước từ mọi lời an ủi.

Tôi không cần ai an ủi, tôi chẳng hề thấy buồn. Tôi được trở về với cuộc sống mình hằng mong ước, bình lặng, an yên, nơi niềm vui hay nỗi buồn đều do tôi tự kiểm soát và xử lý lấy, đó mới là điều tôi kiếm tìm.

Năm nay gặp lại, Z hỏi suốt quãng thời gian dài xa cách, đã bao giờ tôi nhớ đến anh chưa. Tôi thành thật: “Hai lần.”

Anh có vẻ hụt hẫng, thở dài bảo sao chỉ có hai lần thôi à.

Ngoại trừ việc trong mối tình với Z tôi cứ dùng dằng ngoảnh lại quá nhiều lần, thì về cơ bản tôi là người một khi đã đưa ra quyết định sẽ không bao giờ hối hận. Mỗi lần dọn tủ đồ theo mùa tôi luôn bỏ đồ cũ rất dứt khoát, mua sắm đồ đạc không bao giờ phải hỏi ý kiến người khác, đã quyết định bỏ là tuyệt đối không cần nữa.

Có lẽ từ nhỏ, mẹ luôn tôn trọng sở thích của tôi, tôi quen tự quyết rồi, nên hiếm khi phải đắn đo trước những ngã rẽ.

Một khi đã nghĩ thấu đáo và quyết định chia tay Z, tôi sẽ xóa sạch bóng hình con người ấy ra khỏi thế giới của mình.

Nếu không có gì bất ngờ, tôi sẽ không bao giờ nhớ đến anh nữa.

Lần đầu tiên tôi nhớ đến Z là vào tháng mười một năm ngoái, khi cuốn *Trang giấy trắng* vừa mở bán trước trên mạng, biên tập viên nhắn tin báo với tôi rằng bản phát hành trực tiếp có làm thêm quà tặng kèm mới, đó là một cuốn sổ tay bìa cứng.

Tôi thích lắm, nhưng dạo ấy lại lười ra ngoài, bèn hỏi xem có kênh mua sắm trực tuyến nào bán không.

Biên tập viên bảo tôi có thể lên ứng dụng Đắc Vật tìm thử.

Điện thoại tôi vốn không cài ứng dụng này, thường ngày tôi cũng chẳng có món đồ gì cần mua trên đó cả. Tôi tải ứng dụng về rồi đăng nhập, lúc ấy mới ngỡ ngàng nhận ra tài khoản của mình không phải tài khoản mới tinh.

Tôi từng mua đồ trên đó rồi, chỉ là bản thân hoàn toàn quên bẵng đi, nhìn vào lịch sử mua hàng tôi cũng chẳng nhớ nổi chuyện đó nữa.

Thời gian mua là hồi năm ba đại học, một đôi giày AJ4 bản OG, người nhận ghi tên Z, phía sau là dãy số điện thoại bị che vài số ở giữa. Đó chính là số điện thoại của Z, với mấy số đuôi là ngày sinh nhật của tôi.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *