BƯỞI HỒNG MÙA HẠ – Chương 14
Editor: Team Phong Tâm
Beta: Phong Tâm
—
Chương 14: Mong em luôn vui vẻ (1)
Sau khi Z rời đi chừng vài ngày, có lẽ vì hai đứa đã nhắc lại quá nhiều chuyện cũ, tôi bắt đầu ngồi thu dọn lại album ảnh trong chiếc điện thoại cũ, tiện thể lướt đọc lại đôi dòng tin nhắn năm nào.
Cách một quãng thời gian đằng đẵng đến thế, giờ đây đọc lại những lời giận dỗi, những câu từ nặng nề ấy, tôi mới thực sự thấy ngày xưa mình quá đỗi khó chiều, khó ở làm sao.
Thuở ấy, trong thế giới của tôi dường như ngoài bản thân ra thì chẳng còn một ai khác. Tôi cứ mặc sức phóng đại cảm xúc của riêng mình, mà dường như ngó lơ mất một điều rằng người khác cũng bằng xương bằng thịt, cũng biết đau đớn như ai.
Giữa đêm khuya thanh vắng, đọc lại mà lòng dạ xót xa, khó chịu khôn nguôi.
Cuối cùng trằn trọc không sao chợp mắt nổi, tôi bèn gửi cho Z một tin nhắn xin lỗi, thấy hổ thẹn vì sự ấu trĩ, ích kỷ và thiếu chín chắn của mình năm xưa. Tôi đúng là một kẻ kỳ quặc hết phần thiên hạ.
Mãi đến khi trời hửng sáng tôi mới thiếp đi, đến chiều tỉnh dậy thì trong điện thoại đã có sẵn tin nhắn hồi âm của Z.
Một đoạn tin nhắn rất dài, rất dài, nhưng tựu trung lại ý tứ chỉ gói gọn trong ba chữ: không sao cả.
Và câu cuối cùng anh viết là: “Hồi lớp mười, em từng viết vào cuốn sổ tay của anh một câu: ‘Nếu anh thích một kẻ lập dị, thì thực ra em cũng rất tuyệt vời mà.’”
Tôi bỗng nhớ lại những ngày tháng ngồi bàn trước của Z hồi năm lớp mười.
Anh chẳng bao giờ thích tụ tập đùa nghịch với đám con trai trong lớp, giờ ra chơi phần lớn thời gian đều ngồi yên tại chỗ của mình.
Giấy nháp của tôi thì vẽ vời nguệch ngoạc đủ thứ, thỉnh thoảng lại chép vài câu văn lãng mạn nhặt nhạnh được từ mấy cuốn tạp chí hay tiểu thuyết; còn Z thì đến cả tờ giấy nháp cũng kẻ dòng ngay ngắn, tinh tươm, mỗi một bài toán đều có thể tìm thấy vùng giải tương ứng rõ ràng. Giờ ra chơi tôi thường hay xoay ngược ghế lại, nằm bò ra bàn anh, cố tình vẽ bậy viết bạ lên tờ giấy nháp của anh.
Tôi nhớ mình còn từng nắn nót viết lên trang đầu cuốn từ điển tiếng Anh của anh một câu: “Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi.”
Sau khi hiểu được ý nghĩa của câu thơ ấy, Z lúc đó ngượng ngùng đỏ bừng cả mặt.
Tôi là một kẻ miệng thì nói chung tình chẳng đổi thay nhưng thực chất lại rất dễ cảm thấy chán chường.
Nhiều khi, tôi cứ kiên trì ăn mãi ở một quán quen, chẳng phải vì thấy nó ngon lành đến mức không đổi, mà đơn giản chỉ là vì tôi lười đi tìm tòi quán mới mà thôi; những bài hát thuở ban đầu nghe đến rơi nước mắt, nếu cứ cài chế độ phát lặp đi lặp lại một bài mãi, thì cái cảm giác rung động xốn xang ban sơ ấy rồi cũng sẽ dần phai nhạt chẳng còn lại chút gì.
Tôi chưa từng kỳ vọng vào hai chữ vĩnh hằng.
Cuộc đời này có quá nhiều biến số khôn lường, điều duy nhất con người ta có thể làm được chỉ là tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc của hiện tại mà thôi.
Tôi không hẳn là tự ti, nhưng cũng chẳng tự tin đến mức nghĩ rằng bản thân xứng đáng để một ai đó cứ mãi yêu thương mình suốt đời suốt kiếp.
Nhiều lúc, chính tôi cũng chẳng thể nào hiểu nổi, rốt cuộc Z đang mê mẩn điều gì ở tôi cơ chứ?
Thời gian đã trôi qua quá lâu, quá dài, hai đứa cãi vã nhau không biết bao nhiêu lần, chúng tôi đã cùng nhau trò chuyện từ chuyện thời thơ ấu cho đến tương lai sau này, từ cách thức chung sống với người thân bạn bè cho đến những rung cảm riêng biệt khi cùng xem chung một bộ phim. Quen biết nhau suốt mười một năm trời, những gì có thể nói đều đã nói cạn cùng rồi; chúng tôi từng mời đối phương bước chân vào thế giới của mình, phơi bày toàn bộ con người thật, đem tất thảy những tật xấu, khuyết điểm của nhau bày ra trần trụi trước mắt, từng cãi vã, cũng từng cố gắng mài giũa để thích nghi, cái sự không hợp nhau giữa hai chúng tôi rõ rành rành ra đó.
Con người ta chẳng thể nào ở trong một hoàn cảnh như thế mà vẫn tiếp tục ôm ấp ảo tưởng về một người khác được.
Giữa chúng tôi từ lâu đã chẳng còn sót lại chút không gian nào cho những mộng tưởng viển vông nữa rồi.
Tôi nói: “Chắc hẳn anh phải hiểu rất rõ, nếu anh ở bên em thì sau này anh sẽ phải sống những chuỗi ngày như thế nào rồi đấy. Em là một kẻ lúc nào cũng đặt bản thân mình lên vị trí ưu tiên hàng đầu. Hồi trước em đòi chia tay với anh, mẹ em không đồng ý, em đã bảo thẳng dẫu cho mẹ có đem chuyện cắt đứt quan hệ mẹ con ra để đe dọa thì cũng bằng thừa. Em chẳng nghe lời ai hết, cuộc đời của em, dẫu có bị phá hỏng bét đi chăng nữa, thì em cũng chỉ chấp nhận để nó hỏng trong chính những quyết định do tự tay em chọn lựa mà thôi.”
Tôi nhìn Z mà bảo: “Em là một kẻ ích kỷ, điều đó chắc anh cũng phải nhìn thấy quá rõ ràng rồi.”
Z đáp: “Anh chưa từng thấy em ích kỷ cả. Em chỉ là người biết trân trọng cảm xúc của chính mình thôi, điều đó chẳng có gì là sai trái hết. Anh cũng biết rất rõ nếu ở bên em thì sau này mình sẽ sống những chuỗi ngày ra sao, và đó chính là cuộc sống mà anh hằng mong muốn.”
Tôi thở dài một hơi thật sâu, cuối cùng ngước nhìn anh mà hỏi: “Đám bạn của anh, đã có ai từng mắng anh là kẻ lụy tình mù quáng chưa?”
Z bảo: “Chưa ai nói thế cả, nhưng tự anh biết, chắc là anh như thế thật. Anh cứ hễ nhìn thấy em là thấy vui trong lòng, hễ nghe thấy giọng em là lại mềm lòng ngay. Hồi cấp ba giờ ra chơi, anh thường ngồi yên tại chỗ ngắm em tíu tít nói chuyện với mấy bạn nữ trong lớp, từng biểu cảm nhỏ trên gương mặt em trông sống động vô cùng.”
Tôi hỏi: “Lâu đến thế rồi mà anh vẫn chưa thấy chán à? Chẳng lẽ chưa từng có khoảnh khắc nào anh thấy phiền phức đến phát ngấy, hễ nghe thấy giọng em là chỉ muốn thốt lên rằng quá đủ rồi hay sao?”
Z đáp: “Có chứ, mỗi lần em đòi chia tay với anh.”
Tôi chỉ còn biết học cách tin tưởng và tôn trọng điều đó. Có lẽ mỗi một điều mà một con người cố chấp bám víu lấy đều mang một ý nghĩa riêng mà người ngoài không tài nào thấu suốt nổi. Nó cũng giống như việc tôi có thể thức thâu đêm suốt sáng để đọc nghiền ngẫm một cuốn sách, lúc đọc thì rơi nước mắt, đọc xong lại thấy lòng bùi ngùi hụt hẫng; dẫu bẵng đi một thời gian rất dài sau đó, tình cờ thấy bản tái bản mới ngoài hiệu sách, trong lòng vẫn lập tức dâng trào những cảm xúc dạt dào khôn xiết, vội vã cầm lên nâng niu, thầm cảm ơn vì cuốn sách ấy đã xuất hiện trong cuộc đời mình, thực sự yêu thích đến phát cuồng. Thế nhưng bạn bè tôi nhìn vào lại ngơ ngác thắc mắc, cuốn này thực sự hay đến thế cơ à? Rốt cuộc nó hay ở chỗ nào vậy?
Những cảm xúc ấy mang tính cá nhân quá đỗi.
Bản thân tôi cũng chẳng tài nào giải thích rành mạch cái sự “hay ho” ấy cho người khác hiểu được.
Trước kia, tôi luôn mong mỏi thế giới này hãy rộng lượng bao dung để tôi được quyền quy chụp những điều mà người đời cho là có ý nghĩa thành thứ vô nghĩa, tha thứ cho thói buông thả, lười biếng và uể oải của tôi;
Còn giờ đây, tôi lại mong bản thân mình có thể học cách bao dung, thấu hiểu khi người khác đem những điều mà tôi cho là vô nghĩa khoác lên một sắc màu độc đáo riêng biệt. Cho dù tôi không thể đồng cảm nổi với sự sâu sắc ấy, nhưng nhất định tôi sẽ luôn tin tưởng và tôn trọng ý nghĩa ẩn chứa bên trong nó.
Cho dù không thể thấu hiểu trọn vẹn, thì chí ít ở những lĩnh vực mà bản thân còn mù tịt, đừng để sự thiếu hiểu biết khơi mào cho thói xấc xược, đừng để sự ngạo mạn chiếm đoạt lấy sự ngượng ngùng lúng túng, hãy luôn giữ lại cho mình lòng thiện lương và sự kính sợ vốn có.
Hai chữ “cảm nhận” đối với một kẻ như tôi mà nói quả thực quan trọng vô cùng.
Trong ký ức của mình, có lẽ nó bắt nguồn từ thuở tôi mới lên vài ba tuổi, mẹ dắt tôi đi thử đôi giày mới rồi ân cần hỏi han: “Ngón chân con có thấy khó chịu không?” Tôi vốn dĩ quá đỗi nhạy cảm với hai chữ “khó chịu”, có một dạo tôi từng ngộ nhận đó là một loại thiên phú của mình, để rồi từ đó mặc sức sử dụng nó một cách bừa bãi không tiết chế.
Cũng chẳng rõ là bắt đầu từ ngày nào, sự giác ngộ muộn màng ấy mới chịu ghé thăm, giúp tôi chợt giật mình nhận ra rằng, không phải chỉ có mỗi một mình tôi biết “khó chịu”, mà cảm xúc của bất kỳ ai trên đời này cũng đều xứng đáng được nhìn nhận, được thấu hiểu và được tôn trọng.
Và đời người cũng đâu thể chỉ bó hẹp trong việc “cảm nhận cho tốt”, việc biết “bày tỏ cho đúng” cũng là một điều quan trọng chẳng kém phần.
Lần thứ hai Z tới đây, tốc độ nhanh đến mức khiến cô bạn cùng phòng của tôi phải tròn mắt kinh ngạc: “Mới rời đi được bao lâu đâu chứ? Chẳng phải bảo công việc bận rộn lắm cơ mà?”
Chính tôi cũng thấy ngỡ ngàng, vừa gặp mặt đã hỏi thẳng Z, có phải hôm trước anh nói chuyện điều chuyển công tác bận rộn hơn là nói dối lừa tôi không đấy?
Z vội bảo: “Sao anh nỡ lừa em được, anh chưa từng lừa em bao giờ cả.” Nói đoạn, anh mở điện thoại cho tôi xem mấy hình ảnh liên quan đến việc bàn giao công việc, rồi Z nói thêm, mấy hôm trước anh vừa tranh thủ về quê thăm mẹ rồi.
Tôi nhìn anh trân trân, chẳng buồn tiếp lời, chuyện đó thì liên quan quái gì đến tôi cơ chứ.
Lần thứ hai ra ga đón Z lại tiếp tục xảy ra sự cố ngoài ý muốn.
Ban đầu Z nhất quyết không cho tôi đi đón, bảo anh cứ về khách sạn cất hành lý trước rồi qua đón tôi đi ăn trưa là được, còn bồi thêm một câu: “Em không hợp với việc đi ra ga đón người đâu.”
Nhìn thấy câu ấy tôi bỗng thấy tự ái, sao tôi cứ đụng vào việc này thì không hợp, đụng vào việc kia cũng chẳng xong thế nhỉ, tôi là cái thứ vô dụng đến mức ấy cơ à?
Tôi nhắn lại cho Z: “Anh nói chuyện nghe xót xa thật đấy. Lần trước nhầm đường chỉ là tai nạn thôi mà, giờ em biết cách thật rồi, em vừa học được cách đi tàu điện ngầm vào tận ga tàu cao tốc đón người rồi đấy, đơn giản lắm, cho em thêm một cơ hội nữa đi.”
Z không chịu, bảo chuyện đó đảo lộn tôn ti trật tự quá.
Tôi nài nỉ: “Cứ để em đi đón một lần đi mà, bình thường em đâu có mấy khi có dịp ra ga đón người đâu. Khó khăn lắm mới học được, em phải đi thực hành thực tế cho quen quy trình chứ.”
Cuối cùng Z đành chịu thua, gửi giờ tàu đến cho tôi.
Hôm ấy tôi đi tàu điện ngầm ra đón Z, bụng thầm nghĩ đi tàu điện ngầm thế này thì chắc chắn không lo tắc đường nữa rồi, mọi chuyện nhất định sẽ suôn sẻ. Ai ngờ đâu… tôi lại ngồi nhầm hướng tàu…
Ngày thường ra ngoài nếu không phải bạn bè lái xe chở đi thì tôi cũng toàn gọi taxi, tôi thực sự đã quá lâu rồi không bước chân lên tàu điện ngầm, mọi thứ với tôi đều bỡ ngỡ vô cùng. Nhưng may thay, tôi tự biết cái tính mình rất dễ gặp trục trặc, thế nên lần nào ra ngoài cũng chủ động đi sớm cả một quãng thời gian dài vì sợ lỡ dở kế hoạch.
Thành thử tuy có đi ngược hướng một đoạn, nhưng vì thời gian còn dư dả nên tôi kịp bắt tàu quay ngược trở lại.
Vừa vặn đến sớm hơn giờ tàu của Z tới bốn phút.
Tôi có chuẩn bị một món quà nhỏ cho Z. Z vui ra mặt, đón lấy món quà rồi bảo: “Anh cũng có chuẩn bị quà cho em này, lát nữa em không được từ chối đâu đấy nhé.”
Tôi dặn trước: “Quà nhỏ xinh thì được, đắt quá là em không nhận đâu.”
Z xách chiếc túi quà nhỏ màu cam trên tay, trêu: “Em tặng anh cả đồ Hermès cơ mà.”
Tôi chỉ muốn đảo mắt một cái: “Dòng nước hoa của hãng thôi mà, rẻ bèo ấy.”
Z hỏi: “Thế hôm nay em có xịt nước hoa không?”
Tôi đáp: “Vườn Trên Sông Nile.”
Z cười bảo: “Trùng hợp thế, anh cũng có chai này, tông mùi cam chanh ngửi dễ chịu cực kỳ.”
Tôi bảo: “Chỉ hiềm nỗi lưu hương hơi ngắn, nhưng em lại trót mê cái mùi hương này mất rồi.”
Quy trình tiếp đón Z lần này cũng y sì đúc như lần trước, tôi lại liệt kê danh sách các quán ăn để Z chọn lựa. Buổi trưa hai đứa dắt nhau đi ăn một quán món Huy, quán phục vụ lên đồ ăn chậm rì rì.
Món quà Z tặng tôi là một chiếc tai nghe dạng kẹp vành tai, đựng trong chiếc hộp bọc da màu hồng phấn dùng để đựng phụ kiện, thoạt nhìn qua trông khá giống một chiếc hộp đựng nhẫn cưới. Khoảnh khắc Z lấy chiếc hộp ấy ra, tôi thoáng đơ người mất một nhịp. Anh vội xua tay bảo: “Đừng sợ, không phải nhẫn đâu, là tai nghe thôi. Trong này đựng mấy món phụ kiện gắn trên tai nghe, hơi lấp lánh một chút, chắc em sẽ không thích mấy món lấp lánh này lắm đâu, nhưng tai nghe thì dùng ổn áp lắm đấy.”
Tôi khẽ “vâng” một tiếng rồi đón lấy xem thử, quả nhiên lấp la lấp lánh thật, tôi vốn chẳng ưa bất cứ thứ gì phát sáng lấp lánh như thế.
Z giải thích: “Lần trước thấy em đứng bên lề đường mà tiếng xe cộ lao tới em cũng chẳng nghe thấy gì cả. Em toàn dùng cái loại tai nghe chống ồn chủ động ấy đúng không, ra đường đeo loại đó nguy hiểm lắm, dùng cái tai nghe dạng kẹp này sẽ an toàn hơn nhiều.”
Tôi bảo: “Em chưa đeo kiểu này bao giờ, em quen cái cảm giác được đắm chìm trong âm nhạc rồi.”
Z nói: “Không phiền phức đâu, em có thể dùng song song cả hai chiếc mà, hễ ra ngoài thì đeo chiếc này. Để anh tải ứng dụng về máy giúp em, sau này chỉ cần mở nắp hộp ra là nó tự động kết nối ngay.”
Trong lúc Z đang cặm cụi tải ứng dụng, tôi chợt phát hiện ra trên vỏ hộp tai nghe có in một hình vẽ trông quen mắt vô cùng.
Z khoe: “Hôm trước đi ngang qua cửa hàng anh ghé vào đặt in riêng đấy, nhìn không đẹp sao em?”
Tôi buồn cười quá, bèn trêu anh: “Em biết là đặt làm riêng rồi, nhìn cũng rất đẹp, nhưng cái hình vẽ đại diện nhỏ này là tranh do độc giả của em bỏ tiền ra thuê họa sĩ vẽ tặng em đấy nhé. Anh moi ở đâu ra thế hả, người ta đã cấp quyền cho anh dùng chưa? Tự ý in ấn bừa bãi thế này là anh đang vi phạm bản quyền đấy có biết không hả?”
Z ngớ người ra: “Nghiêm trọng đến thế cơ à? Anh lướt mạng thấy từ lâu lắm rồi, thấy đáng yêu quá nên lưu về máy thôi. Anh cứ đinh ninh vẽ hình em thì anh được quyền dùng chứ, vả lại in xong cũng là để đem tặng lại cho em mà, như thế cũng không được sao?”
Bức tranh đại diện này vốn dĩ đã được bạn độc giả kia đồng ý cho tôi toàn quyền sử dụng rồi, chính tay tôi còn từng đem đi in thành bưu thiếp tặng mọi người nữa cơ.
Thế nhưng lúc ấy tôi lại cố tình trêu chọc Z: “Ý thức bản quyền kém cỏi thế này, cứ đợi đấy mà chuẩn bị hầu tòa đi nhé.”
Đợi đến khi các món ăn được dọn lên bàn, trước lúc cầm đũa, tôi nghiêm mặt đe nẹt Z: “Hôm nay mà còn dám tranh giành trả tiền nữa là tới số với em đấy!”
Z cười bảo: “Được rồi, nghe em hết, anh không trả đâu.”
Sau đó chúng tôi bắt đầu rôm rả kể về những người bạn học cũ thời cấp ba. Nhắc đến cậu bạn từng buông lời trêu chọc Z năm nào, giờ đã định cư ở Úc làm bác sĩ; nhắc đến cậu bạn cùng lớp ngày trước tối ngày bắt chước giọng điệu phát biểu của lãnh tụ, nay đã toại nguyện thi đỗ vào biên chế nhà nước; nhắc đến cô bạn cùng lớp mê mẩn một nam minh tinh nọ, hễ lên sóng phát thanh trường là lại đòi phát bài hát *Huy chương*, năm ngoái cũng đã bước lên xe hoa; rồi cả cậu bạn ngày xưa từng lập ban nhạc học đường, hăng hái tham gia đủ mọi cuộc thi ca hát, giờ đang cùng vợ đi hưởng tuần trăng mật, mấy hôm nay ảnh ngập tràn khắp bảng tin WeChat.
Tôi vốn rất ít khi lướt bảng tin, cũng chẳng mấy khi bận tâm xem người khác đang sống những chuỗi ngày ra sao. Nhờ có Z kể, tôi mới ngỡ ngàng hay tin A Sủng và Tiểu Mai năm nay đang rục rịch chuẩn bị kết hôn rồi.
Tôi không khỏi cảm thán: “Hai người họ vậy mà vẫn còn bên nhau cơ đấy.”
Z cũng đầy vẻ bùi ngùi, có lẽ dưới con mắt của người ngoài, A Sủng và Tiểu Mai quả thực trông chẳng mấy xứng đôi vừa lứa.
Tôi bất giác nhớ đến Lục Lục, diện mạo cậu ấy bao năm vẫn chẳng hề đổi khác, vẫn xinh xắn nhưng lại mang một nét gì đó hơi cô độc, khép mình; sở thích cũng vẹn nguyên như ngày nào, ngần ấy năm trôi qua cậu ấy vẫn mê mẩn những bài hát của Trần Lạp. Còn nhớ một giờ ra chơi hồi cấp ba, tôi từng tò mò hỏi cậu ấy sao lại đặt tên tài khoản là “Như Dã”, cậu ấy bảo: “Cậu có biết Trần Lạp không?”
Về sau, cứ mỗi lần giai điệu bài *Cưỡi ngựa* vang lên là tôi lại bất giác nhớ tới cậu ấy.
“Trải qua bao thăng trầm rốt cuộc tôi cũng chịu ngẩng đầu nhìn lại, thấy cậu vẫn đứng bên bờ bên kia đợi tôi gom đủ dũng khí bước qua.”
Tôi ngước nhìn Z, tò mò hỏi sao anh lại biết tường tận chuyện của A Sủng và Tiểu Mai thế, hai người họ vẫn còn ở Thượng Hải à?
Z đáp: “Họ quay về Nam Kinh rồi.”
Tôi hỏi: “Thế sao anh biết được?”
Z nói: “Họ đến hỏi vay tiền, bảo là đang chuẩn bị làm đám cưới nhưng chuyện sính lễ hai bên gia đình không tìm được tiếng nói chung, giờ cũng đang đau đầu rắc rối lắm.” Nói đoạn, anh bỗng vội vàng thanh minh với tôi: “Anh không có cho vay đâu đấy nhé.”
Tôi nén cười, khẽ “vâng” một tiếng.
Lần thứ hai Z ghé thăm, bầu không khí trò chuyện giữa hai chúng tôi rõ ràng đã trở nên thoải mái, tự nhiên hơn rất nhiều. Buổi tối, tôi dẫn anh đến khu Tân Lương Thương để nếm trải chút nhịp sống về đêm ít ỏi, nghèo nàn của cái thành phố này.
Tôi bảo với Z: “Cái thành phố này tẻ nhạt lắm, bản thân em cũng là một kẻ tẻ nhạt, em thực sự chẳng biết phải dẫn anh đi đâu chơi cho vui nữa.”
Z dịu giọng: “Không sao đâu, anh chỉ muốn được biết về cuộc sống thường nhật của em thôi, muốn xem em cùng mấy cô bạn cùng phòng hễ tới đây thì thường làm những gì.”
Anh đã muốn biết thì tôi cũng chẳng ngần ngại kể.
Nếu đến sớm thì trước tiên sẽ mua một cốc đồ uống, vừa đi dạo loanh quanh vừa mua sắm linh tinh vài món đồ. Trước kia tôi từng mua mấy món đồ lưu niệm nho nhỏ ở tiệm đồ lưu niệm sáng tạo đằng kia để gửi tặng độc giả; chúng tôi cũng thường xuyên rủ nhau ghé vào đây gắp thú bông, mấy con gấu gắp được cũng đem tặng độc giả hết cả. Lượn lờ mỏi chân rồi thì kéo nhau đi ăn uống, mùa hè tới đây chúng tôi hay ghé một quán chuyên về tôm hùm đất, món cua xào cay ở đó làm cũng khá ổn áp. Cuối cùng trước lúc ra về, mỗi đứa sẽ mua một cây kem ốc quế vị hạt dẻ cười, vừa đi vừa ăn cho đến khi về tới tận nhà.
Z bảo: “Được thôi, thế thì cứ làm y như vậy đi, mình đi ăn cái quán mà em hay ghé ấy.”