BƯỞI HỒNG MÙA HẠ – Chương 07
Editor: Team Phong Tâm
Beta: Phong Tâm
—
Chương 7: Tình yêu là chân lý tối thượng của vũ trụ
Cứ mỗi lần cãi nhau xong là tôi lại chẳng buồn nhận quà của Z nữa. Hôm ấy cũng vậy, tôi nhất quyết không chịu nhận, rồi chẳng ngoài dự liệu, đôi bên lại tiếp tục lời qua tiếng lại vài câu. Rốt cuộc, cũng chỉ là cảnh Z lộ rõ vẻ bất lực, cất giọng: “Tô Tô, em đừng cảm tính như thế có được không?”
Thấy anh như vậy, lòng tôi lại càng thêm khó chịu.
Mãi đến năm nay, tôi mới có dịp ngồi lại giãi bày mọi chuyện cho ra ngô ra khoai với Z. Anh bảo, hồi đó thật sự không tài nào hiểu nổi vì sao hễ mở lời là lại khiến tôi tức giận; rõ ràng chẳng muốn cãi vã, thế nhưng cuối cùng chuyện lại càng xé ra to.
Còn tôi, dường như phải trải qua bao nhiêu năm trời mới chập chững tìm ra cách đối thoại chân thật nhất với lòng mình. Tôi bảo: Bởi vì khi ấy, dẫu ngoài miệng em thản nhiên thừa nhận bản thân đầy rẫy khuyết điểm, nhưng trong thâm tâm, em lại chẳng cho phép anh vạch ra bất cứ điều gì.
Dĩ nhiên anh sẽ nghĩ rằng mình đâu có săm soi bắt bẻ lỗi lầm của tôi, anh chỉ đang nhìn nhận đúng việc, chỉ muốn dung hòa mối quan hệ ngay lúc đó, thậm chí đơn thuần là muốn vỗ về tôi mà thôi.
Thế nhưng tất cả đều vô ích. Bởi lẽ những câu như “em đừng cảm tính như thế có được không” hay “em đừng lúc nào cũng bi quan nghĩ mọi chuyện theo hướng tồi tệ đi có được không”, một khi thốt ra từ miệng anh rồi lọt vào tai tôi, ý tứ liền bị giản lược thẳng thừng thành: “Tô Tô, giờ anh thấy em có vấn đề, trong mắt anh em tệ đi nhiều rồi đấy, và hiện tại anh rất bất mãn với chuyện này, em tự xem lại mình rồi tính xem phải làm thế nào đi.”
Tôi thì biết làm thế nào được đây? Chẳng lẽ lại bảo với anh rằng, dẫu có phát hiện ra những điểm chưa tốt ở em thì anh vẫn yêu em như trước được không? Đừng vơi bớt tình cảm, dẫu em có thật sự đổi thay thì anh cũng đừng thay lòng, được không anh?
Như bài hát *Only Look at Me* ấy hả?
Mấy khúc ca tệ bạc ấy nghe cho vui thì được, chứ mình đâu còn là con trẻ, làm sao thốt ra nổi những lời ngang ngược vô lý nhường này. Thế nhưng lòng vẫn thầm mong mỏi, muốn có được mà chẳng biết tỏ cùng ai, thế là đành giận dỗi thừa nhận: “Phải rồi, em là thế đấy, em không chín chắn, em cảm tính đấy thì sao.”
Người ta sở dĩ nhận lỗi là vì đang ngóng đợi đối phương lên tiếng phản bác, lòng dạ con người kể cũng lạ lùng, phải không?
Lần đầu đọc cuốn *Cửa hẹp*, khi ấy tuổi đời còn nhỏ, tôi chẳng hiểu được bao nhiêu, chỉ thấy thứ tình cảm này sao mà gượng gạo trắc trở đến thế. Cớ sao một mặt thì yêu nhau sâu đậm, mặt kia lại đẩy nhau ra xa? Đã đôi bên cùng phải lòng nhau rồi, việc đến với nhau chẳng phải là lẽ dĩ nhiên hay sao? Cần gì phải buông những lời như “Điều làm em đau lòng nhất, chẳng phải là bàn tay anh đã buông lơi tay em, mà là em cảm nhận được rằng, dẫu anh không làm thế thì chính tay em rồi cũng sẽ làm như vậy”. Yêu nhau thôi mà, sao lại lắm nỗi phiền toái nhường ấy.
Cho đến một ngày nọ, chính tôi cũng viết ra được câu từ: “Em rời xa anh, là để anh tìm thấy em”, nghe qua cứ như kẻ rảnh rỗi sinh nông nổi, chẳng có việc gì làm mà lại thích kiếm chuyện làm quà.
Những lúc buông lời cay nghiệt với nhau, hễ vừa dứt cơn là tôi lại bị cảm giác hụt hẫng, bơ vơ tột cùng ập đến giáng thẳng vào đầu. Tôi thầm oán giận anh trong lòng, thầm nghĩ nếu không có anh, mình đâu đến mức trở nên đáng ghét nhường này. Cớ sao trước mặt bạn bè tôi luôn là một người cảm xúc vững vàng, giỏi giang xử lý mọi chuyện, mà hễ cứ đứng trước mặt anh là tôi lại hóa ra nông nổi, ấu trĩ, lại còn buông lời độc địa tổn thương người khác? Sao tôi lại cứ phải biến thành cái dáng vẻ mà bản thân chán ghét nhất cơ chứ?
Chính anh đã từng bước ép tôi trở thành nông nỗi này, chính anh đã biến tôi thành kẻ kỳ quặc.
Tôi muốn chia tay anh. Chỉ có chia tay anh thì cảm xúc trong tôi mới quay về được vùng an toàn quen thuộc, chứ niềm “vui sướng” cùng nỗi “muộn phiền” mà anh đem lại cho tôi, ngưỡng cảm xúc nào cũng đều quá đỗi chênh vênh.
Hồi mới yêu nhau năm cấp ba, tôi đã từng bảo với anh rằng, anh đừng yêu đương theo cái kiểu ấy, anh dốc lòng dốc sức quá nhiều rồi, em theo không kịp.
Hai đứa thích nhau vốn đã là chuyện chắc như đinh đóng cột, vậy thì cứ tận hưởng tình yêu một cách nhẹ nhàng, thoải mái là được rồi. Em chẳng cần phải trở thành duy nhất của anh đâu, không cần nhiều đến thế, cùng lắm là năm mươi phần trăm thôi. Tâm sức của anh dành cho em, đừng vượt quá năm mươi phần trăm.
Anh bảo: “Ít thế sao được, đã thích thì phải dốc trọn lòng mình chứ.”
Tôi đáp: “Anh cứ dốc trọn lòng mình trong năm mươi phần trăm ấy là đủ rồi, một nửa đã là quá nhiều. Bởi vì anh là một cá thể độc lập, chứ đâu phải món phụ kiện sinh ra chỉ để xoay quanh em. Anh còn có bạn bè, gia đình, cuộc đời anh còn bao nhiêu việc khác nữa, những điều đó cũng quan trọng chẳng kém và đều xứng đáng để anh bỏ thời gian vun vén.”
Anh chẳng thèm nghe lời tôi.
Anh cứ khăng khăng đem hết mọi nỗi vui buồn của mình trao trọn cho tôi quản thúc.
Đã bao nhiêu bận, anh vừa ngơ ngác vừa đau đớn gặng hỏi: “Rốt cuộc anh đã làm chuyện gì sai trái với em, mà khiến em mệt mỏi đến thế, khiến em nhất quyết phải chia tay?”
Trong cuốn *Phù du mơ mộng*, tôi từng viết: “Cô ấy khi thì như vầng thái dương, lúc lại tựa cơn mưa rào bất chợt. Cảm giác nắm giữ buồn vui nắng mưa trong lòng một người khác chẳng hề khiến Lâm Tấn Từ thấy thỏa thuê, vui sướng, mà trái lại chỉ mang đến cho cô thêm phần bối rối. Khi cơn mưa rào ập đến, dường như cô đang cùng đứng dưới làn mây đen mù mịt với Phó Dịch Bái; cô không hiểu một Phó Dịch Bái như thế, cũng chẳng thể giương ô che chở cho anh. Cho nên, Lâm Tấn Từ ước ao mình có thể mãi làm vầng thái dương của Phó Dịch Bái, không nỡ nhìn anh bị ướt sũng dưới cơn mưa.”
Anh hiểu chưa? Chỉ có trong mấy câu chuyện ngôn tình người ta mới viết được như thế thôi, chứ ở đời thực, làm gì có ai làm vầng thái dương của ai mãi được.
Thế nhưng cũng như vậy, tôi chẳng hề mong anh bị mưa làm cho ướt sũng.
Chuyện yêu đương mang lại cho tôi cảm giác hệt như việc nhào bột vậy, một người là nước, một người là bột. Muốn nhào được mẻ bột ngon thì tỉ lệ giữa cả hai phải vừa vặn, đằng này anh cứ mặc kệ đúng sai mà đổ nước vào ồ ạt, anh đòi dốc hết can tràng, thế anh bảo phía bên “bột” phải xoay xở làm sao?
Sau này lên đại học rồi tốt nghiệp ra trường, tôi thấy ngay cả năm mươi phần trăm thôi cũng đã là quá nhiều. Đời người rồi sẽ gặp gỡ biết bao nhiêu người, trải qua biết bao nhiêu chuyện; vừa phải đuổi theo những ước mơ có khi xa tận chân trời, lại vừa phải thu dọn mớ bòng bong của cuộc sống hiện tại. Dành ra được ba mươi phần trăm tâm sức để yêu một người đã là chạm tới giới hạn rồi.
Cứ yêu thêm nữa, người ta thật sự sẽ kiệt sức mất thôi.
Nói với anh chẳng thông.
Tôi thấy anh thật sự có vấn đề, nhưng về sau ngẫm lại, tôi lại thấy người có vấn đề hẳn phải là mình mới đúng. Người ta yêu nhau toàn nói chuyện trao trọn một trăm phần trăm chân tình, duy chỉ có tôi ở đây cò kè bớt một thêm hai năm mươi phần trăm, không không không, ba mươi phần trăm, chẳng khác nào một kẻ keo kiệt bủn xỉn tính toán từng li từng tí.
Có lẽ anh họ tôi nói đúng, cái ngữ người như tôi vốn chẳng nên dính dáng vào chuyện yêu đương làm gì, cứ thui thủi một mình có khi lại hay, đỡ phải đi gieo họa cho người khác.
Hồi tưởng lại, lúc nào cũng là Z mở lời xin lỗi: “Là anh không tốt”, “Anh sửa”, “Để anh lo liệu”, “Anh hứa lần sau không thế nữa có được không”. Phải rồi, rốt cuộc anh đã làm nên tội tình gì ghê gớm lắm, mà cứ phải luôn mồm tạ lỗi như thế chứ?
Nghĩ lại thấy cũng buồn cười, chúng tôi thậm chí từng cãi nhau một trận to chỉ vì cái tính “hễ chút là xin lỗi” của anh.
Hình như là hồi năm tư đại học, dạo ở Nam Kinh, Z lại xin lỗi. Tôi bảo, lúc nào anh cũng nhận sai ngay tắp lự, anh đã kịp nghĩ cho chín xem giữa chúng ta xảy ra chuyện gì, vấn đề nằm ở đâu chưa? Anh cứ thế mở miệng xin lỗi, lời tạ lỗi của anh chẳng hề có chút tâm tư nào, anh không thấy nó lấy lệ lắm sao? Anh xin lỗi rồi em bỏ qua, nhưng vấn đề đâu có được giải quyết, lần sau đôi mình lại chẳng tiếp tục cãi vã, có thay đổi được điều gì đâu.
Z im lặng.
Nhiều khi, giữa hai chúng tôi ngay cả tốc độ nói lẫn phản xạ trò chuyện cũng chẳng hề ăn khớp. Tôi có bao nhiêu câu từ “tự cho là sắc bén đâm trúng tim đen”, thì Z lại có bấy nhiêu “khoảng lặng nín thinh kéo dài quá mức”.
Sự im lặng ấy, nếu cứ kéo dài mãi, rất dễ bị người ta bẻ cong, suy diễn sai lệch.
Thế nhưng hôm đó thì không, Z cất lời: “Đúng là anh chưa kịp nghĩ cho thông mọi chuyện đã vội xin lỗi em, nhưng anh không hề lấy lệ. Anh chỉ sợ vuột mất em, không muốn thấy em buồn, cứ ngỡ mở lời nhận sai trước thì sẽ xoa dịu được phần nào.”
Sau này, mỗi bận tự kiểm điểm lại cái tính nết dở dở ương ương, chẳng chịu thành thật của mình, tôi thường hay nhớ đến cảnh tượng ấy. Rõ ràng lòng tôi đã mềm nhũn ra, rõ ràng cảm nhận được sự chân thành nơi anh, vậy mà câu đáp lại từ miệng tôi thốt ra vẫn là hai chữ: “Vô ích.”
Z bảo: “Những khúc mắc giữa hai đứa, anh đều sẽ ghi tạc trong lòng để nghiêm túc suy nghĩ.”
Nghe vậy, lúc đó tôi liền buông lời: “Mấy người con trai các anh toàn thế, mở miệng ra là vẽ hươu vẽ vượn, chẳng thèm đếm xỉa xem rốt cuộc chuyện đó có làm nổi hay không.”
Z nói: “Anh sẽ không như thế đâu.”
Cãi vã quá nhiều lần, những bất đồng giữa chúng tôi đâu phải chuyện cứ nói nhẹ tênh là xong xuôi được. Tôi hoàn toàn chẳng tin, thái độ cũng gắt gỏng: “Anh vốn dĩ đâu muốn suy nghĩ về vấn đề của hai đứa, anh nói thế chẳng qua chỉ là muốn tiếp tục yêu em mà thôi.”
Z hỏi ngược lại: “Muốn yêu em thì có gì sai sao?”
Tôi nghẹn lời, chẳng còn câu gì để phản bác.
Những ai mới biết chuyện tình cảm giữa tôi và Z hẳn khó tránh khỏi ngạc nhiên, tự hỏi thứ tình cảm kiểu gì mà có thể hợp tan tan hợp dằng dặc suốt ngần ấy năm trời, yêu đương kiểu gì lạ lùng đến thế.
Năm 2024, sau chuyến đi du lịch miền Tây Tứ Xuyên trở về, tôi từng ví von thế này: Tôi hệt như một con rùa rụt cổ, chỉ cần có chút gió thổi cỏ lay là cách giải quyết duy nhất của tôi chính là thụt đầu vào mai, buông một câu: “Anh đi đi, không yêu đương gì nữa hết.” Yêu nhau tan hợp ngần ấy năm, có lẽ là vì mỗi lần tôi thò đầu ra khỏi mai rùa thì đều nhận ra, hóa ra anh vẫn chưa từng rời bước. Anh cứ đứng đó nhìn tôi rồi hỏi: “Giờ đã yêu tiếp được chưa em? Nếu chưa thì anh lại đợi thêm chút nữa.”
Năm đó, tôi cũng từng than thở với bạn bè, chẳng hiểu nổi rốt cuộc anh đang cố chấp vì điều gì. Chúng tôi bên nhau quá lâu, cãi vã quá nhiều, những điều tốt đẹp hay tật xấu của đôi bên đều đã phơi bày rành rành ra trước mắt nhau từ sớm, chẳng còn chừa lại chút không gian nào để mà mơ mộng hão huyền nữa rồi.
Đợt ấy chắc là lúc tôi đang viết bản thảo dự trữ cho cuốn *Tiết trời tiếc hoa* [惜花天气]. Cuốn sách nhỏ này về sau được người ta nhận xét là câu chuyện nhẹ nhàng, đáng yêu nhất của tôi, thế nhưng nó lại được thai nghén vào chính giai đoạn trạng thái cá nhân của tôi tồi tệ nhất.
Tôi cứ vô cớ rơi nước mắt trước màn hình máy tính, và đó cũng là lần duy nhất cho đến tận bây giờ tôi khóc đến mức thở không ra hơi, tay chân tê dại, cả người chẳng thể nhúc nhích nổi. Lúc ấy co quắp trên giường, tôi cứ ngỡ như có một bản thể khác của mình đang đứng sừng sững bên mép giường nhìn trừng trừng vào tôi mà hỏi: “Mày đang buồn vì cái nỗi gì thế hả? Có gì đâu mà phải đau lòng đến nông nỗi này?”
Tôi chẳng biết vì sao mình lại buồn, chỉ thấy lòng ngập tràn nỗi bi thương mà thôi.
Nhưng tôi biết bản thân mình có lẽ đã gặp vấn đề rồi. Tôi không viết lách gì nữa, tạm gác lại một dạo để ra ngoài khuây khỏa. Dẫu ngày thường bạn cùng phòng bận bịu đi làm, tôi cũng cố gắng chăm chút cho bản thân, tối đến lại cùng nhau ra ngoài ăn một bữa cơm, dạo quanh các khu trung tâm thương mại.
Đợt đó, ba đứa chúng tôi gắp được bao nhiêu là thú bông mang về, thú bông xếp chen chúc chật ních trên lưng ghế sô pha, tâm trạng tôi nhờ thế cũng dần dà khá khẩm hơn đôi chút.
Lúc viết cuốn *Tiết trời tiếc hoa*, tôi thường xuyên thức trắng đêm. Có bận trời vừa hửng sáng, vừa vặn lúc bạn cùng phòng trở dậy chuẩn bị đi làm, thế là mấy đứa lại rủ nhau cùng ăn bữa sáng.
Có một bận, cô bạn cùng phòng bỗng dưng nhắc đến Z, chính cô ấy cũng lấy làm thắc mắc, bảo rằng đôi khi chẳng tin nổi trên cõi đời này lại có người đàn ông như thế, thật sự cứ nhất mực phải là tôi mới chịu. Anh ấy cũng đã bước chân ra ngoài xã hội đi làm rồi, con người ta cũng phải thực tế lên một chút chứ, đâu thể mãi như thế được.
Tôi cũng chẳng hiểu nổi.
Nhưng cũng không thấy quá đỗi bất ngờ.
Từ hồi cấp ba, anh đã là một người kiệm lời, nhưng lại luôn mặc định rằng “tình yêu là chân lý tối thượng của vũ trụ”.
Năm 2024, chúng tôi lại một lần nữa nổ ra tranh cãi vì nhắc đến chuyện “hôn nhân và tương lai”.
Thái độ tôi vô cùng kiên quyết. Tôi nghĩ giữa hai đứa dẫu có cố làm cái gọi là “thấu hiểu và thỏa hiệp” đi chăng nữa thì cũng chỉ chuốc thêm vất vả nhọc nhằn cho Z mà thôi. Thôi thì dứt khoát chặt đứt mọi hy vọng, tôi nói thẳng tuột với anh rằng thôi bỏ đi, em không đời nào cưới anh đâu, anh từ bỏ cái ý nghĩ ấy đi cho rảnh nợ.
Chẳng bao lâu sau, Z gọi điện cho tôi, nhắc rằng sắp đến hẹn tôi phải lên Thượng Hải tiêm vắc-xin rồi. Mũi tiêm này gồm ba đợt, những lần trước đều là anh lái xe đưa tôi đến bệnh viện.
Anh hỏi lần này tôi định khi nào thì qua.
Tôi bảo tôi sẽ tự liên hệ với bệnh viện dời lịch lại, tháng này tôi chẳng muốn đi nữa, sau này có đi thì cũng không báo cho anh đâu, một mình tôi tự lo liệu được.
Rồi Z hỏi thăm dạo này cuộc sống của tôi thế nào. Tôi chẳng buồn đáp, chỉ buông một câu: “Chúng mình chia tay rồi.”
Z hỏi: “Chia tay từ bao giờ thế em?”
Tôi bảo: “Em chẳng biết, tóm lại là chia tay rồi. Em đã bảo chia tay thì anh cũng đâu thể cứ mãi không đồng ý được chứ.”
Z im lặng một thoáng rồi cất giọng: “Được rồi.”
Cuối cùng vẫn là Z đưa tôi đến bệnh viện. Anh bảo tôi là đứa mù đường, bảo dẫu sau này có chẳng thèm bước chân đến Thượng Hải nữa, dẫu có chia tay đi chăng nữa thì cũng phải tiêm phòng cho đúng hẹn, đừng có đem sức khỏe của bản thân ra làm trò đùa.
Từng đặt chân đến Thượng Hải biết bao nhiêu lần, nhưng đó là lần bầu không khí ngột ngạt, tệ hại nhất, và cũng là lần tôi lưu lại ngắn ngủi nhất. Suốt dọc đường đi đến bệnh viện, cả hai đứa chỉ biết nhìn nhau nín thinh.
Cuối năm ấy, anh họ của An đính hôn. An báo tin này cho tôi, buông vài lời xuýt xoa cảm thán rồi nhắc lại chuyện xưa: “Hồi tụi mình học đại học, anh ấy từng thích mày đấy thôi.”
Mùa hè năm hai đại học, tôi cãi nhau với Z một trận, ngay trong đêm ấy khóc lóc chạy đến tìm An. Tôi ấm ức xả với bạn: “Thế là có ý gì chứ? Cái gì mà mai về Thượng Hải luôn? Đe dọa tao đấy à? Bộ tất cả đều là lỗi của tao hết chắc?”
An thì dĩ nhiên lúc nào cũng đứng về phía tôi rồi.
Tôi khen “Z tốt tính cực kỳ”, nó sẽ phụ họa ngay “Tô Tô nhà mình lúc nào cũng tinh tường”; tôi chê “Z xấu tính tệ bạc”, nó lại hùa theo “chắc chắn là có vấn đề rồi”.
Thế nhưng hôm ấy, anh họ của nó cũng đứng về phía tôi hệt như vậy, bỗng dưng chen ngang một câu: “Nghe em kể thế, anh thấy cậu này có vấn đề lớn thật đấy, chẳng thèm đoái hoài gì đến cảm xúc của em cả. Phải là anh thì anh chẳng đời nào làm thế đâu.”
Tôi lập tức hiểu ra ngay.
Lần ấy, tôi với Z làm lành rất nhanh.
Thế nhưng vụ chia tay năm ba đại học lại nghiêm trọng hơn nhiều, đôi bên dứt nhau một quãng thời gian dài, khi ấy tôi thật sự nghĩ rằng hai đứa sẽ chẳng bao giờ hàn gắn lại được nữa.
Kỳ nghỉ hè năm ba, tôi cũng sang nhà An ở lại mấy hôm, và anh họ nó cũng ghé qua ăn cơm. Trên bàn ăn, chẳng biết nói qua nói lại thế nào mà ý tứ anh ấy thích tôi liền lộ rõ mồn một.
Về sau, khi tôi ở chơi đã thỏa và chuẩn bị về lại nhà mình, bác gái giúp tôi thu dọn quần áo, bỗng dưng mở lời bảo, thật ra gia cảnh cháu trai bác rất khá giả, thế này thế nọ, nhà chỉ có độc mỗi mụn con trai, sau này tốt nghiệp cao học ra trường công việc cũng chẳng thể xoàng xĩnh được đâu.
Lúc ấy tôi có phần ngượng ngùng, khó xử.
An liền xị mặt xuống gắt: “Mẹ làm cái trò gì thế, mẹ nói thế sau này nó chẳng thèm đến chơi nữa đâu. Người ta mới ăn của mẹ có hai bữa cơm mà mẹ đã muốn bắt người ta về làm dâu nhà chị gái mẹ rồi à? Con xin mẹ đấy, đừng có học đòi mấy bà cô trung niên thích đi mai mối lung tung có được không.”
Bác gái ôm lấy tôi phân trần: “Bác là thật lòng nghĩ cho cái Tô đấy chứ, gia cảnh nhà bác cả mày đâu có tồi, chẳng phải động tay động chân vào việc gì, gả về đấy là chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng hưởng phúc thôi.”
An với mẹ nó quanh năm suốt tháng cứ hễ mở miệng ra là đấu khẩu, nó bèn cãi lại: “Làm gì có chuyện đó, con thấy tính bác cả khó ưa chết đi được, cậy có tiền nên hống hách lấn lướt, đi đâu cũng muốn người ta phải tâng bốc mình lên tận mây xanh. Cái Tô nhà mình đâu phải ngữ chịu ấm ức được dù chỉ một chút chứ? Còn bày đặt hưởng với chả phúc.”
Mẹ An tiếp lời: “Tụi mày bây giờ còn trẻ người non dạ, chưa hiểu được cảnh hai vợ chồng lấy nhau về chung sống đâu. Chỉ cần không phải đau đầu vì chuyện cơm áo gạo tiền là đã bớt đi được bao nhiêu mối bất hòa rồi, đấy chính là một thứ hạnh phúc đấy con ạ. Không thì ngoài kia người ta đi xem mắt, việc gì cứ phải đặt điều kiện này nọ lên hàng đầu làm chi?”
An lại tiếp tục cãi bướng: “Thế nếu xét về gia cảnh, điều kiện của người yêu cũ nó cũng đâu có kém cạnh ai chứ, vả lại nó đâu phải đứa màng đến mấy thứ vật chất ấy.”
Đang dở câu chuyện thì tôi bước ra ngoài nghe điện thoại, bố tôi gọi hỏi trưa nay về nhà muốn ăn món gì. Đến khi tôi quay lại phòng, mẹ của An lại quay ngoắt sang khuyên tôi nên quay lại với Z đi cho rồi.
An ngán ngẩm thốt lên với mẹ: “Con đến chịu mẹ luôn đấy”, rồi nó vớ lấy túi xách đẩy tôi ra ngoài cửa giục: “Đi đi đi, tao tiễn mày xuống dưới nhà, mày mau về nhà đi cho rảnh nợ.”
Sau khi tôi và Z chia tay, anh họ của An vẫn còn nhắn tin tìm tôi qua WeChat.
Dẫu cả đời này mới chỉ yêu đương với đúng một người con trai, nhưng ở ngoài đời, tôi lại rất thích quan sát mọi người xung quanh. Tôi nhận ra, trừ những kẻ dẻo mồm dẻo miệng chuyên đi lừa gạt ra, chẳng rõ là xuất phát từ “sự say mê vẻ đẹp mập mờ” hay do “muốn giữ lại cho mình một đường lui khi bày tỏ tình cảm”, hoặc giả vì một nguyên cớ nào khác, mà đa phần cánh đàn ông khi thổ lộ lòng mình đều chẳng giống Z chút nào. Họ cứ thiếu đi sự rõ ràng, thiếu đi nét kiên định.
Cứ như thể, anh ta chỉ dừng lại ở mức bóng gió cho bạn hiểu rằng “tôi có ý với em đấy nhé”, còn một nửa còn lại thì phải cậy vào sự đón nhận, hưởng ứng từ phía đối phương mới thành. Chờ đến khi cô gái cũng bật đèn xanh, đáp lại tương tự thì câu “tôi thích em” mới chịu lộ diện; còn nếu cô gái chẳng mảy may đoái hoài, thì phép thử tình cảm đầy ý tứ ấy sẽ lập tức đưa người đàn ông quay về trạng thái “chưa từng có chuyện gì xảy ra, kể cả việc thích em”, bởi lẽ từ đầu chí cuối, lời tỏ tình “tôi thích em” nào đã được nói ra một cách rõ ràng đâu.
Cuộc trò chuyện với anh họ của An bận ấy cũng hệt như vậy.
Cuối cùng, anh ấy bảo: “Chắc em vẫn chưa buông bỏ được người cũ đâu nhỉ. Thật ra làm bạn với em cũng vui lắm, sau này rảnh rỗi lại cùng chơi game nhé.”
Tôi đáp: “Vâng, cũng được ạ.”
Về sau anh ấy có gửi lời mời chơi game mấy bận, tôi đều từ chối rồi thoát mạng luôn.
Tôi bắt đầu tập tành chơi game vào khoảng mấy ngày trước lễ tuyên thệ một trăm ngày đếm ngược thi đại học hồi lớp mười hai. Trước đó, tôi chưa từng chơi qua bất kỳ tựa game di động nào. Có lẽ hồi bé từng chơi máy điện tử bốn nút Tiểu Bá Vương với anh họ tôi, bị anh chê là ngốc nghếch, không có khiếu chơi game, chẳng biết chơi đâu, thế là tôi tin sái cổ luôn.
Hồi ấy, trò *Vương Giả Vinh Diệu* mới bắt đầu rộ lên, trong lớp tôi có không ít bạn bè cày trò này, trong đó có cả Z. Mỗi bận ăn được món gì ngon hay chơi được trò gì thú vị, ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu anh luôn là rủ tôi thử cho bằng được.
Z cứ dăm bữa nửa tháng lại giục tôi thử chơi trò này, bảo tôi hễ biết chơi rồi thì có thể vào trận cùng anh, vả lại nhóm A Sủng, Lục Lục với Anh trai pháo hoa bọn họ cũng đều đang chơi cả.
Tôi bảo: “Em đâu có cấm đoán chuyện anh chơi game, dẫu anh có chơi cùng các bạn nữ khác thì em cũng thấy bình thường. Tính em xưa nay chẳng bao giờ thích quản thúc nửa kia, anh thấy vui là được rồi.”
Z nói: “Có em chơi cùng thì anh mới vui hơn chứ, anh rất muốn chơi game cùng em mà.”
Tôi vẫn một mực khước từ.
Rốt cuộc tôi cũng chẳng nhớ vì cơ duyên nào mà mình lại gật đầu đồng ý. Z mừng rơn như mở cờ trong bụng, lập tức với lấy điện thoại của tôi đòi tải game về ngay. Tôi bảo để về nhà hẵng tải, thế mà anh dám ngồi tải luôn ngay trong tiết học Toán.
Tối hôm đó về nhà chơi luôn, và ngay trong đêm đó, tôi ẵm trọn một vé tố cáo từ người chơi khác.
Cơ chế tố cáo hồi ấy không giống bây giờ, hễ bị tố cáo là bị trừ điểm uy tín ngay, trừ vài bận là bị cấm đấu suốt hai mươi tư giờ đồng hồ.
Tôi thật sự chẳng biết chơi một tí nào. Để tránh cho tôi khỏi bị trừ điểm đến mức bị cấm thi đấu, Z đành bỏ chế độ lập đội đôi, đi rủ rê mọi người lập đội năm người, thế nhưng ngày đầu tiên vẫn không gom đủ quân số.
Thế là đội chỉ có tôi, Z, Lục Lục và A Sủng, đành kéo thêm một người lạ vào ghép đội.
Vừa vào trận, A Sủng đã bật mic nói với người lạ kia rằng: “Đường giữa mới tập chơi, chưa biết đánh đâu, đừng có chửi người ta nhé, bốn đứa tụi này đánh cẩn thận là vẫn thắng được đấy.”
Tôi không bị mắng chửi, thế nhưng cái sự chê cười nhận về bận ấy thì đến tận bây giờ tôi vẫn chẳng thể nào quên.
Đang đánh dở, người lạ kia bỗng dưng thốt lên: “Ủa sao con Angela lại lên giày tốc đánh thế kia, cả đời này tao chưa thấy bao giờ luôn đấy.”
Tôi bèn thật thà giải thích: “Tôi thấy đôi này đẹp mắt nên mua thôi.”
Người đó lại mỉa mai: “Đi nhầm chỗ rồi hả má, tính vào hẻm núi chơi trò búp bê thời trang Ngôi Sao Lấp Lánh đấy à?”
Z liền đỡ lời: “Mặc kệ cô ấy đi giày gì đi, thắng được là được.”
Rốt cuộc trận đó thắng thật.
Ván ấy Z cầm tướng A Kha, Lục Lục chơi Ngu Cơ, còn tôi là con Angela xỏ đôi giày tăng tốc đánh.
Tôi chẳng thích cái vị tướng mà Z chọn hộ cho mình chút nào, tôi cũng chẳng thấy Angela giống như lời Z nói là “thao tác đơn giản, rất dễ làm quen”. Mỗi bận giao tranh tổng, nghe ai đó hô “Tô Tô xả chiêu cuối đi”, tôi đứng lơ ngơ ngoài rìa đám đông rồi tung chiêu ngược hướng, cảm giác lúc ấy thật đúng là một giây dài tựa một năm.
Chẳng bao lâu sau, tôi từ bỏ luôn vị tướng này.
Sau bao phen thử nghiệm đủ loại, rốt cuộc tôi cũng tìm thấy được niềm vui trong tựa game này. Tôi nhớ có một buổi trưa nọ trên đường đi học, Z đã tặng tôi một chiếc điện thoại mới toanh, bảo là máy này chơi game mượt mà hơn, xem như quà chúc mừng tôi tìm ra vị tướng ruột của đời mình — Đại Kiều.
Bao nhiêu năm nay tôi vẫn bập bõm chơi *Vương Giả*, cũng như chuyện hợp tan tan hợp với Z vậy. Đại Kiều đã qua tay biết bao nhiêu phiên bản chỉnh sửa, nhưng sơ tâm trong tôi vẫn chẳng hề đổi dời; mỗi lần đăng nhập vào tài khoản tổng kết mùa giải, Đại Kiều vẫn luôn là vị tướng ruột của tôi.
Duy chỉ có năm nay là không phải nữa.
Từ năm ngoái, tôi đã bắt đầu tập tành chơi các vị tướng mới, có lẽ là do bản thân không còn muốn nhìn thấy hình bóng Đại Kiều thêm nữa, cũng chẳng muốn nghe thấy câu thoại xuất trận của nàng vang lên bên tai:
“Dõi trông về nơi bầu trời, biển cả, và những hồi ức có chàng.”