BƯỞI HỒNG MÙA HẠ – Chương 05

Editor: Team  Phong Tâm
Beta: Phong Tâm

—

Chương 5: Liệu có nghe thấy tiếng lòng em?

Mãi rất lâu sau này tôi mới nhận ra, mỗi lần về quê và cảm thán trước những đổi thay của thành phố, rất nhiều cột mốc để tôi đối chiếu với quá khứ đều gắn liền với những khung cảnh từng có Z ở bên.

Năm hai mươi ba, em trai của An thi đỗ vào trường Trung học Y. Bác gái liền thuê một căn nhà gần trường để tiện chăm sóc, vị trí không hẳn đắc địa, nhưng cũng chẳng tìm đâu ra căn tốt hơn, bởi nhà ở khu vực trường điểm bao giờ cũng khó thuê.

Tôi lại ghé qua khu siêu thị ấy, lần đầu tiên trong đời tự tay chọn mua quà cáp để tới thăm người lớn.

Trước đây có lẽ tôi là một đứa rất đỗi vô tâm. Dạo ấy đúng dịp Quốc khánh, nhớ lại cảnh tôi xách túi lớn túi nhỏ tới tìm cô bạn thân, bác gái vừa mở cửa đã giật mình thảng thốt, hỏi sao tôi lại mua nhiều đồ thế này.

An đang ở trong phòng cuốn tóc, cười tít mắt trêu: “Sếp Tô dạo này kiếm bộn tiền rồi nha!”

Tôi đáp rằng trước kia toàn đến tay không ăn chực ở nhờ suốt bao ngày, bác coi cháu chẳng khác nào con gái ruột, đây chỉ là chút lòng thành của cháu thôi.

Bác nhận đồ rồi bảo: “Gớm, ngày trước cháu cũng hay mua quà cho cái An còn gì, cốc chén trong nhà chất thành cả đống, nó toàn bảo là cháu tặng. Hai đứa quen nhau từ hồi học múa tiểu học, ngót nghét bao nhiêu năm rồi, cháu sang nhà bác cứ tự nhiên như nhà mình, lần sau đừng bày vẽ mua sắm thế này nữa nhé.”

Tôi cùng An — lúc này vẫn đang cuốn dở lọn tóc — đưa mắt nhìn nhau. Nó cười đầy vẻ tinh quái như xem kịch, bởi nó vẫn chưa kịp kể với mẹ rằng, thực ra đống cốc ấy chẳng phải do tôi tặng, mà chỉ là cái cớ che đậy chuyện yêu sớm thuở học trò.

Bác liền nhắc tới Z trước, hỏi có phải tôi và bạn trai đang tính chuyện cưới xin rồi không.

Tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện.

Trước Tết, sau khi cùng anh tới thăm ông nội Z xong, ngay tối hôm ấy hai đứa đã cãi nhau một trận nảy lửa dưới chân tòa nhà tôi ở. Dự định gặp mặt phụ huynh hai bên cũng theo đó mà tan thành mây khói, bặt vô âm tín.

Về sau qua Tết, mối quan hệ giữa tôi và Z dẫu có dịu lại đôi phần, nhưng đã chẳng còn được như xưa. Đó là một sự “khác xưa” tựa như quả trứng đã luộc chín định hình, vĩnh viễn không bao giờ có thể đảo ngược lại được nữa.

Lật lại những dòng ghi chú cũ, tháng Ba năm ấy tôi lên Thượng Hải.

Hồi còn học đại học, Z đã liên tục giục tôi đi tiêm vắc-xin HPV chín chủng, nhưng tôi cứ lần lữa mãi, hết viện cớ phiền hà lại bảo sợ đau.

Anh nhắc đi nhắc lại, bảo con gái tiêm càng sớm càng tốt. Rốt cuộc đến năm nay, anh trực tiếp hẹn trước với bệnh viện rồi thông báo bắt tôi phải qua. Anh bảo đã mua sẵn vé xe, đặt xong khách sạn, anh sẽ ra ga đón tôi, toàn bộ lịch trình đều được sắp xếp chu đáo; chuyến này không phải gặp gỡ người thân hay bạn bè nào của anh hết, chỉ đơn thuần là đi tiêm phòng, còn lại tùy tôi muốn ở lại chơi mấy ngày cũng được, bảo đảm không có gì phiền toái.

Khi ấy, giữa chúng tôi cũng chưa đến mức quá tồi tệ. Chỉ cần Z không đả động đến chuyện tương lai và hôn nhân, hai đứa vẫn hệt như những cặp tình nhân bình thường. Nhưng hễ chạm đến, nhẹ thì không khí chùng xuống gượng gạo, nặng thì lập tức rơi vào chiến tranh lạnh.

Chúng tôi không còn có thể chuyện trò không chút giấu giếm như trước. Giữa hai đứa dường như bị chôn giấu một quả bom bầu không khí đầy nhạy cảm; gặp nhau thì vẫn vui đấy, nhưng chẳng biết tự bao giờ, trong từng câu chữ đã bắt đầu nồng đượm những “ý tại ngôn ngoại”.

Thời đại học, tôi từng ghé Thượng Hải vài lần, cũng từng đến nhà Z ở đây. Lần nào tới tôi cũng chẳng tiếc lời chê bai, hệt như cái cách anh từng nhận xét về quê tôi vậy.

Chỉ có điều khác biệt là, mỗi khi tôi dỗ dành anh, anh liền vui vẻ trở lại; còn lúc anh an ủi tôi, tôi lại tiếp tục buông lời bướng bỉnh, cãi bướng không thôi.

Z hỏi sao tôi lại không thích nơi này.

Tôi bảo: “Ở đây nhịp sống nhanh quá, áp lực lắm.”

Z liền nói: “Sau này đâu cần em phải đi làm kiếm tiền, em thì có áp lực gì chứ, cứ tận hưởng cuộc sống chẳng phải là tốt rồi sao.”

Tôi nói: “Tận hưởng sao nổi, ra đường là tắc xe, cứ ở đây là thấy ngột ngạt, bực bội.”

Z lại bảo: “Đô thị loại một nào chẳng thế, Bắc Kinh cũng vậy thôi. Hay tắc đường coi như là một điểm trừ đi, nhưng chẳng lẽ nó không có điểm tốt à, chẳng hạn như điều kiện y tế phát triển…”

Tôi quay ngoắt mặt nhìn ra ngoài cửa kính xe. Z lập tức hiểu là tôi không muốn nghe nữa, và ngay sau đó, cả khoang xe lại chìm vào một sự im lặng khiến cả hai đều thấy ngột ngạt khôn cùng.

Lần đó cũng chẳng ngoại lệ. Tiêm xong xuôi, từ đường Tư Nam đi ra, Z chầm chậm lái xe, giới thiệu với tôi về con phố trăm năm tuổi lá rụng không quét, vĩnh viễn không mở rộng lòng đường. Anh bảo nơi này rất đẹp, rất đáng để dạo quanh một vòng, ở đây có tiệm sách Tư Nam nữa, chắc em sẽ thích.

Tôi chẳng buồn đón lời, chỉ buông một câu: “Thì cũng tắc đường như nhau cả thôi.”

Thế rồi, không ngoài dự đoán, sự im lặng lại bao trùm.

Lát sau đi ăn cơm, xe vừa leo lên cầu vượt cạn thì kẹt cứng không nhúc nhích nổi một phân. Nhưng ráng chiều Thượng Hải hôm ấy lại đẹp đến nao lòng. Chúng tôi cứ thế lặng lẽ ngồi trong xe, loa ô tô đang phát từng bài hát mà giai điệu nào tôi cũng đỗi thân quen.

Tôi quay sang hỏi Z: “Chẳng phải anh thích Châu Kiệt Luân sao? Từ bao giờ mà anh lại nghe nhạc Hàn thế này, danh sách bài hát của anh giống hệt của em vậy.”

Z đáp: “Bởi vì đó chính là danh sách nhạc của em mà.”

Tôi tròn mắt ngạc nhiên, bởi xưa nay tôi chưa từng chia sẻ gu âm nhạc của mình cho ai.

Z mới dịu dàng giải thích: “Trên ứng dụng nghe nhạc có thể thấy em đang nghe gì. Anh thích Châu Kiệt Luân thật đấy, nhưng anh thích em nhiều hơn.”

Dòng xe cộ bên ngoài dẫu vẫn chôn chân tại chỗ, nhưng ánh hoàng hôn dường như lại càng rực rỡ, lung linh hơn. Bài hát vang lên trong xe khi ấy là bản “Can You Hear My Heart” của Lee Hi.

Thuở cấp ba, vào những tiết tự học buổi tối cả lớp rủ nhau chiếu phim kinh dị, vì sợ hãi nên tôi cứ gục đầu xuống bàn, bật đi bật lại một bài hát duy nhất, chính là bản nhạc này.

Tôi đã yêu thích bài hát ấy suốt biết bao năm trời.

Ngay phía trên dòng xe cộ ken đặc nghẽn tắc, một chiếc máy bay lướt ngang qua, vừa thấp lại vừa gần. Tôi buột miệng: “Sao lại bay thấp thế nhỉ.”

Z cố tình trêu: “Sao nào, giờ đến cả máy bay ở Thượng Hải em cũng ghét nốt đấy à?”

Tôi ngoảnh sang lườm anh một cái, anh liền bật cười.

Rồi anh kéo tay tôi lại, khẽ đặt một nụ hôn lên mu bàn tay.

Bầu không khí dường như lại ấm áp, dịu ngọt trở lại.

Lúc đợi món ăn dọn lên, tôi chống cằm lơ đễnh, anh nhìn tôi rồi bảo: “Em lúc nào cũng lười biếng, thong thả, nhìn thấy em anh cũng đâm ra lười biếng theo.”

Khoảng thời gian đó có lẽ tôi quá đỗi nhạy cảm, bất kể Z nói lời gì, tôi cũng vô thức suy diễn theo hướng: “Có phải anh ấy đang muốn uốn nắn, thay đổi mình không?”.

Nghĩ anh đang bắt bẻ mình, tôi liền hơi xị mặt, bực bội nói: “Em chẳng làm gì cả, cũng đâu có đòi hỏi anh phải giống em.”

Z vội vàng giải thích: “Không phải thế, ý anh là, chỉ cần nhìn thấy em là anh thấy vô cùng nhẹ nhõm, thảnh thơi đến mức lười biếng đi, em chẳng cần phải làm bất cứ điều gì thì anh cũng đã thấy thế rồi.”

Khoảng thời gian còn lại ở Thượng Hải trôi qua rất đỗi êm đềm, nhưng tất cả cũng chẳng giải quyết được gì. Hai chữ “kết hôn” và “tương lai” vẫn như một mầm mống bất an khổng lồ lơ lửng giữa hai đứa.

Thậm chí đến dịp Quốc khánh, bố mẹ tôi cứ ngỡ từ Tết đến giờ tôi và Z đã làm lành, mọi việc nên tiếp tục xúc tiến theo đúng kế hoạch ban đầu, thế nên họ vô cùng bất mãn trước việc tôi kiên quyết từ chối lời ngỏ ý muốn về thăm nhà tôi của Z.

Câu trả lời duy nhất của tôi chỉ vỏn vẹn ba chữ: “Không cần thiết.”

Với Z cũng vậy, mà với bố mẹ cũng thế.

Đợi lúc An cuốn xong tóc thì em trai nó cũng vừa đi học thêm về. Trường Y Trung vậy mà đã đổi sang mẫu đồng phục mới. Lúc ấy, tôi rất muốn nhắn tin kể cho Z nghe, muốn chê bai mẫu đồng phục mới này xấu tệ hại, chẳng thể nào sánh được với khóa của chúng tôi ngày trước.

Thế nhưng vì chuyện tôi cự tuyệt không cho anh về nhà ra mắt bố mẹ đợt Quốc khánh này, hai đứa mới cãi nhau một trận qua điện thoại hôm kia rồi cúp máy trong bực bội, nên tôi đành thôi.

Dẫu vậy, trong lòng tôi vẫn miên man nhớ về bao chuyện cũ năm nào.

Khóa chúng tôi ngày ấy mặc bộ đồng phục thể dục phối hai màu xanh lam – trắng cùng áo sơ mi trắng tinh khôi. Nhờ có thầy chủ nhiệm trẻ tuổi và cởi mở, lớp tôi còn đặt may riêng một bộ đồng phục lớp. Vào những dịp hoạt động tập thể của trường như hội thao, chúng tôi sẽ mặc bộ đồ ấy.

Kỷ niệm sâu đậm nhất trong tôi là kỳ hội thao năm lớp mười một. Nhớ sâu đậm đến vậy là bởi có quá nhiều bức ảnh được lưu lại.

Thế nhưng tấm ảnh in bằng giấy thật thì chỉ có duy nhất một tấm.

Đó là tấm hình do một bạn nữ mê nhiếp ảnh trong lớp tự tay tráng rọi rồi tặng tôi. Hôm ấy cô bạn mang máy ảnh ra sân vận động ghi lại khoảnh khắc, gọi to: “Tô Tô, nhìn ống kính này!”. Trong tấm ảnh ấy, tôi một tay giữ quả bóng bay, tay kia giơ ngón tay chữ V mỉm cười rạng rỡ.

Khi ấy tôi để mái tóc ngắn ngang vai cùng kiểu mái lưa thưa đang rất thịnh hành thời bấy giờ. Phía sau tôi cách đó không xa, Z đang đứng nghiêng người, một tay giữ lấy lá cờ đỏ của lớp. Giữa ngày hội thao, hậu cảnh sân trường đông đúc bao người qua lại, nhưng dẫu ở xa xa, bóng hình anh vẫn nổi bật và hút mắt nhất.

Đó là bức ảnh chụp thời cấp ba duy nhất mà tôi mang về nhà. Có lẽ cảm thấy tấm hình mang nhiều ý nghĩa, mẹ tôi đã lồng nó vào khung kính cẩn thận, đặt mãi trên bàn học trong phòng tôi.

Tôi và An ngồi nghiêm túc mổ xẻ lý do trường Y Trung lại đổi đồng phục. Chúng tôi bảo đồng phục thời trước thoạt nhìn chẳng khác nào đồ đôi, còn phiên bản mới này lại đổi sang kiểu áo gió phối màu tương phản giữa cam dạ quang với xanh thẫm, vừa quê kiểng lại vừa chói mắt. Nam nữ sinh dẫu có mặc vào đứng cạnh nhau thì trông cũng chỉ như rủ nhau ra đường nhặt rác để hoàn thành nhiệm vụ hoạt động ngoại khóa mà thôi.

Kết luận đưa ra là: Mẫu đồng phục mới này chính là vũ khí tối thượng để dập tắt nạn yêu sớm.

Em trai An ngồi bên cạnh nghe xong thì tỏ vẻ tổn thương sâu sắc, than thở rằng mình đã sinh muộn nên lỡ mất thời hoàng kim.

Bác gái dò hỏi về căn nhà tôi từng thuê hồi học cấp ba, hỏi xem giờ còn thuê được không. Tôi bảo đó là nhà của một người bạn của bố tôi, bao năm qua bác ấy thà để không chứ dứt khoát không cho thuê, bảo là con trai lớn rồi, có thể cưới vợ bất cứ lúc nào, cho thuê một lèo ba năm thì phiền phức lắm.

Bác gái tấm tắc khen chỗ tôi ở ngày trước đúng là tuyệt, bước chân ra cửa là tới trường, buổi sáng chí ít cũng ngủ nướng được hơn người ta tới mười lăm phút.

Quả thực là rất gần.

Trong ký ức của tôi, không ít lần tôi nằm ườn trên giường nướng tới tận sát sáu giờ năm mươi, rồi cuống cuồng đánh răng rửa mặt, xỏ giày lao vội ra cửa. Cứ thế cắm đầu chạy thục mạng, vừa kịp lúc tiếng chuông tự học buổi sáng lúc bảy giờ vang lên, vừa thở hổn hển vừa bước chân vào cửa lớp.

Mỗi bận tôi xuất hiện trong bộ dạng như thế, Z ngồi ở dãy bàn phía sau lại ngước nhìn tôi. Thế rồi đến giờ ra chơi lớn sau tiết học thứ hai, anh sẽ xuống căng-tin mua bữa sáng mang lên cho tôi.

Có một bận, tôi đang tì người vào lan can trước cửa lớp, vừa sưởi nắng vừa nhấm nháp chiếc bánh mì. Giờ nghỉ giữa buổi, hành lang ồn ào náo nhiệt, người thì sang lớp khác chơi, kẻ thì đuổi nhau nô đùa ầm ĩ.

Cậu bạn “Anh trai pháo hoa” vừa gặm chiếc bánh rán giòn vừa lững thững đi tới, cất tiếng gọi tôi: “Anh Tô, đang uống trà sữa đấy à?”

Mấy cậu bạn mà Z kết thân ở ngôi trường này đều có tính khí khá “sửu nhi”. Cả cậu “Anh trai pháo hoa” này lẫn cậu bạn “Hoa hồ điệp” đã chuyển lớp xuống tầng dưới đều chẳng chịu gọi tên tôi một cách bình thường. Bọn họ đưa ra lý lẽ rất đỗi hùng hồn, bảo đã gọi Z là “anh” thì tôi còn ghê gớm hơn cả Z, nhất định phải xưng hô bề trên hơn một bậc mới chuẩn.

Tôi đáp: “Uống trà sữa thì làm sao?”

Anh trai pháo hoa ghé sát lại, vẻ mặt đầy thần bí: “Cậu có biết vì sao lần nào thằng Z cũng mua trà sữa đậu đỏ cho cậu không?”

Tôi vừa gặm bánh mì vừa hút ngụm trà sữa: “Ai mà biết, trà sữa đậu đỏ ngon thì mua thôi.”

Anh trai pháo hoa bảo: “Bởi vì ở quầy đồ uống dưới căng-tin, trên biển thực đơn nó đề tên là ‘Trà sữa tương tư’ đấy, hiểu chưa?”

Lúc ấy tôi vừa bàng hoàng, vừa bán tín bán nghi.

Đến giờ thể dục, nhân lúc hoạt động tự do, tôi kéo bằng được Lục Lục chạy xuống căng-tin xem cho tỏ tường. Quả nhiên trên bảng ghi đúng ba chữ “Trà sữa tương tư”. Lục Lục cũng là lần đầu tiên phát hiện ra, liền đứng bên cạnh xuýt xoa khen khéo quá, đúng là đậu đỏ sinh trời nam, xuân về trổ mấy cành, vương vương bao nỗi nhớ.

Lên đại học rồi, tôi và An hiếm hoi lắm mới có dịp cùng về quê tụ tập, thế nên đành từ chối lời mời ở lại dùng cơm của bác gái, hai đứa ra ngoài bắt taxi chạy sang mạn Quảng trường Mới.

Gia đình nó mới chuyển về đây để tiện chăm lo chuyện học hành của cậu em trai, An chưa thông thạo khu này lắm, bèn hỏi tôi: “Mày chắc quen thuộc khu này lắm nhỉ?”

Tôi bảo: “Cũng chẳng tỏ tường lắm đâu, chỉ biết dạo này giá nhà đất mạn này tăng cao khiếp lắm.”

Bác tài xế bỗng xen vào góp chuyện, bảo giờ hết tăng rồi, đang tụt giá ầm ầm, chỉ có khu Bích Quế Viên phía trước là còn giữ giá đôi chút.

An liền hỏi: “Hồi cấp ba có mùa hè mày hay sang Bích Quế Viên tìm Z lắm đúng không? Tao nhớ có lần mày còn gọi tao sang, đi bơi à?”

Đúng vậy, đi bơi.

Kỳ nghỉ hè năm lớp mười, Z phải về Thượng Hải. Để có thể sớm quay lại đây, anh đã nghĩ đủ mọi lý do để đi đi về về. Đến mùa hè lớp mười một, anh bèn lấy cớ phải ở lại học thêm để đường hoàng ở lại nơi này. Z kể bố anh nhìn thấu tòng phọc tim đen của con trai, chỉ buông một câu đầy thâm ý: “Thích học thêm thì liệu mà học cho tử tế, vào năm học mà không tiến bộ thì biết tay bố”, thế rồi cũng thuận theo ý anh.

Buổi sáng hai đứa cùng nhau đi học thêm, buổi chiều sau khi ngủ dậy, tôi lại sang phòng tập gym tìm anh. Ngay sát phòng gym có quán cà phê sách cùng mấy sân bóng trong nhà, nhưng tính tôi lười vận động, chỉ thích ngồi yên ở khu nghỉ ngơi nhâm nhi cốc nước ngọt bầu bạn cùng anh.

Anh bảo tôi đi cùng mà chẳng có chút tinh thần tham gia gì cả.

Về sau chẳng biết đưa đẩy thế nào lại bàn đến chuyện anh dạy tôi bơi, anh bảo môn bơi lội này đơn giản lắm.

Hôm đầu tiên xuống nước, tôi sặc nước cay xè cả mũi, sang ngày thứ hai thấy khó là lùi bước ngay, vội vàng bỏ cuộc không chút do dự.

Thế nhưng sau đó tôi vẫn lui tới đây rất nhiều lần.

Chỉ để làm bạn cùng Z. Anh bơi, còn tôi quanh quẩn ở khu vực nước nông, hoặc giả chỉ ngồi bên mép hồ đung đưa khua chân quẫy nước.

Có một lần anh túm kéo tôi xuống, đưa ra tận vùng nước sâu rồi vờ buông tay. Tôi hoảng sợ quá, đành cuống cuồng nhào tới ôm chặt lấy anh.

Mức độ va chạm cơ thể thân mật dường ấy thực sự đã vượt quá giới hạn ngượng ngùng của hai đứa lúc bấy giờ. Cả hai đều đỏ mặt thẹn thùng, mà anh lại càng lúng túng, ngượng nghịu hơn.

Thế là tôi vờ giận dỗi gắt lên: “Mau đưa em lên bờ đi, em không chơi nữa đâu!”

Cũng chính tại bể bơi này, tôi từng cố ý hỏi Z một câu hỏi vô cùng cũ rích và sáo rỗng.

Câu hỏi mà người ta vẫn bảo là bài toán thế kỷ hóc búa của cánh đàn ông.

— “Giả sử em với mẹ anh cùng rơi xuống nước, anh sẽ cứu ai trước?”

Lúc đó tôi hỏi chỉ thuần túy là trêu đùa.

Thế nhưng đến tận hôm nay, tôi vẫn nhớ như in phản ứng của anh khi đứng giữa làn nước bể bơi lúc ấy.

Anh ngẩn người ra mất một lúc, rồi đưa tay gạt vội dòng nước trên mặt, để lộ vẻ mặt đượm buồn và day dứt.

Anh nói, anh bỗng thấy bản thân có lỗi với mẹ vô cùng. Mẹ yêu thương anh đến vậy, thế mà phản xạ đầu tiên nảy ra trong đầu anh, lại vẫn cảm thấy tôi mới là người quan trọng hơn.

Thấy anh như thế, lòng tôi cũng chùng xuống xót xa. Tôi liền nhảy ào xuống nước, nắm chặt lấy tay anh mà vỗ về: “Không có đâu mà, chẳng bao giờ có chuyện như thế xảy ra đâu, em chỉ đùa thôi. Mẹ yêu anh nhiều như thế, và anh cũng yêu mẹ thật nhiều, thế là đủ rồi mà.”

Mười năm sau, khi hai đứa nhắc lại chuyện tập bơi ở Bích Quế Viên thuở nào, Z đã hoàn toàn chẳng còn nhớ gì về đoạn ký ức ấy nữa. Anh bảo chỉ nhớ mỗi lần bơi xong, tôi đều nằng nặc đòi đi mua một chiếc burger dứa, rồi chỉ ăn mỗi miếng dứa kẹp bên trong.

Còn có một lần vừa bước ra thì chạm mặt giáo viên tiếng Anh, hai đứa liền lấm la lấm lét chuồn lẹ qua lối cầu trượt ngoài trời, rồi sau đó vẫn đi mua burger dứa, và tôi vẫn chỉ ăn mỗi miếng dứa ngọt lịm ấy.

Chuyện gặp giáo viên tiếng Anh thì đầu óc tôi đã có phần mơ hồ, nhưng chiếc burger dứa thì tôi nhớ sâu sắc lắm. Bởi vì sau khi cạy lấy miếng dứa ra ăn, tôi liền dúi chiếc bánh trơ trọi vào tay anh. Anh càu nhàu bảo ăn cái này vào thì công cốc cả buổi tập gym, thế nhưng vẫn tượng trưng cắn một miếng nhỏ xíu rồi mới vứt đi.

Z chẳng còn nhớ gì về khoảnh khắc dưới bể bơi năm ấy nữa. Anh thậm chí không nhớ nổi tôi từng hỏi một câu ngớ ngẩn đến thế, và càng chẳng thể nhớ nổi câu trả lời của chính mình ngày xưa.

Đôi khi, tôi cũng tự thở dài với chính mình, cảm thấy bản thân quả thực là một kẻ vô vị và tẻ nhạt. Buông bỏ thì phải thanh thản, nắm giữ thì phải biết trân trọng — cả hai điều ấy, tôi đều chẳng thể nào làm được một cách dứt khoát.

Tôi từng viết trong cuốn “Trang giấy trắng”: Tựa như bước chân lên những phiến đá bắc qua dòng nước, khi rón rén dò dẫm bước đi, con người ta vừa mong mỏi bước qua thật vững vàng, lại vừa mường tượng ra cảnh mình bất thần trượt chân rơi tỏm xuống dòng nước xiết.

Tôi dường như cũng là một kẻ như vậy.

Ngay cả trong những khoảnh khắc tươi đẹp nhất, tôi cũng phải dự liệu trước rằng giây tiếp theo mọi thứ có thể sẽ vỡ tan tành.

Con người ta một khi không thể toàn tâm toàn ý đắm chìm vào hiện tại, thì sẽ chẳng bao giờ có được niềm hạnh phúc trọn vẹn.

Thuở thiếu thời, khi Z nói “Em quan trọng hơn”, tôi xúc động khôn cùng, nhưng sâu thẳm đáy lòng vẫn ngấm ngầm giữ lại một chút hoài nghi, tự nhủ những lời thề non hẹn biển của tuổi mười mấy chẳng thể quá xem là thật.

Mười năm sau, đối diện với ánh mắt ngơ ngác lục lọi ký ức của anh, tôi hỏi: “Thế bây giờ đứng trước câu hỏi ấy, câu trả lời của anh là gì? Có thấy khó xử lắm không? Câu hỏi này đúng là có hơi dở hơi thật, nếu đổi lại là người khác hỏi em…”

“Cứu em trước.”

Anh đã buột miệng trả lời, nhưng dường như trong tâm trí vẫn tiếp tục suy ngẫm, rồi bảo: “Câu hỏi này quả thực rất khó trả lời. Anh không biết nếu tình huống đó thực sự xảy ra thì mình sẽ phản ứng thế nào, nhưng khi nghĩ về nó trong đầu, anh vẫn thấy rằng em là người quan trọng nhất, còn những chuyện khác, anh sẽ tìm cách sau.”

Con người ta phải gặng hỏi, chất vấn tiếng lòng đến mức độ nào thì mới cảm thấy bằng lòng đây?

Hay là vĩnh viễn chẳng bao giờ biết thế nào là đủ?

Có phải cứ phải chết đi ngay trong khoảnh khắc lời yêu vừa thốt ra khỏi đầu môi, thì mới có thể chứng minh được sự vĩnh cửu hay chăng?

Rốt cuộc thế nào mới là vĩnh cửu?

Đến mức đáng để người ta phải đem cả sự dò xét và ngờ vực ra mà săn đuổi suốt một kiếp nhân sinh.

Năm nay, chị gái có lần trò chuyện cùng tôi, bảo chẳng hiểu vì sao có những người cứ thích nói lời cay nghiệt, nói lời trái lòng với những người thân cận nhất bên cạnh mình.

Về vấn đề này, có lẽ tôi cũng có đôi phần thấu hiểu để lên tiếng.

Có những người không phải bẩm sinh đã bi quan, thậm chí có khi chẳng hề liên quan đến tổn thương thơ ấu hay bóng ma gia đình nào cả, mà thuần túy chỉ là một sự toan tính, cân đong đo đếm mà có khi chính bản thân họ cũng không hề hay biết.

Chẳng hạn như, khi có ai đó nói yêu cô ấy, trong lòng cô ấy lập tức hướng về kịch bản tồi tệ nhất: giả dối thôi, hoặc dẫu có là thật thì chắc chắn cũng chẳng được bền lâu.

Cô ấy nhất định phải nghĩ như vậy mới chịu được.

Cô ấy tuyệt đối không thể nào nhảy cẫng lên vui sướng một trăm phần trăm mà nghĩ rằng: Có người yêu mình rồi, thích quá, chắc hẳn người ta sẽ yêu mình mãi mãi.

“Tâm lý sợ mất mát”, ý chỉ khi đứng trước cùng một mức độ được và mất, con người ta nhạy cảm với sự mất mát hơn nhiều, và cường độ cảm xúc tiêu cực mà nó mang lại ít nhất cũng gấp đôi niềm vui khi nhận được.

Đôi khi, không phải người ta không chịu tin vào những điều tốt đẹp, mà chỉ là theo tiềm thức, họ muốn ghìm mức độ tổn thất và rủi ro xuống mức thấp nhất mà thôi. Việc lựa chọn giữa “tin rằng anh sẽ mãi mãi yêu em” và “nghĩ rằng anh rồi cũng sẽ đổi thay” giống hệt như một chiến thuật đặt cược vậy.

Lựa chọn thứ nhất: Chọn “tin rằng anh sẽ mãi mãi yêu em”, sẽ phải đối diện với hai kết cục:

Một là, anh yêu mãi mãi. Trước việc đã lường trước, người ta thường chỉ đón nhận với thái độ bình thản, dửng dưng.

Hai là, anh thay lòng đổi dạ. Đây là chuyện không ngờ tới, kết quả là bàng hoàng, đau đớn đến trời đất sụp đổ.

Lựa chọn thứ hai: Chọn “nghĩ rằng anh rồi cũng sẽ đổi thay”, cũng sẽ đứng trước hai kết cục tương tự:

Một là, anh thay lòng đổi dạ. Việc đã nằm trong dự liệu từ lâu, chẳng chút bàng hoàng, nỗi đau cũng hóa nhỏ nhoi, trời đất chẳng hề sụp đổ.

Hai là, anh yêu mãi mãi. Đây lại là điều bất ngờ ngoài dự tính, kết quả là ngập tràn ngỡ ngàng, hạnh phúc khôn cùng, hân hoan vô tận.

Đối với những kẻ mang tư duy toan tính thiệt hơn này, nếu không phải kẻ ngốc thì ai cũng sẽ chọn cách thứ hai. Thế là mới nảy sinh biết bao phen “nói lời trái lòng”, “buông lời cay đắng”, thành thói quen đặt cược toàn bộ vào những “điều tồi tệ”.

Người ngoài nhìn vào đều thấy rõ mười mươi đó là hành vi tự tay phá hủy mối quan hệ, nhưng người trong cuộc lại chẳng hề hay biết, bởi bản năng đang mách bảo cô ấy rằng đó chính là “sự lựa chọn an toàn nhất”.

Năm nay có người bạn than thở với tôi, bảo cảm giác dạo này người không cảm thấy hạnh phúc nhiều quá chừng.

Tôi đáp: Giữ cho mình luôn hạnh phúc vốn dĩ chưa bao giờ là điều dễ dàng, và cũng chính bởi hạnh phúc chẳng hề dễ kiếm tìm, nên nó mới trở nên trân quý đến nhường ấy.

Rất nhiều khi, chúng ta chẳng thể nào lý giải nổi vì sao bản thân lại không hạnh phúc. Khi ta buông lời oán trách đối phương vì sao không thể làm tốt hơn, không thể cho ta cảm giác an toàn trọn vẹn để ta vững tâm mà yêu, thì ta lại chẳng mảy may nhận ra rằng: kỳ thực bản thân mình vĩnh viễn không thể toàn tâm toàn ý đắm chìm vào tình yêu ấy, dẫu đối phương có làm nhiều đến mấy, ta cũng chẳng bao giờ đủ can đảm để yên lòng mà yêu trọn vẹn.

Một lần ngờ, vạn lần nghi; kẻ mang lòng hoài nghi tình yêu thì vĩnh viễn chẳng thể nào chạm tay vào tình yêu đích thực.

Tình yêu luôn giáng xuống một cách bất ngờ, nhưng để đôi bên thực sự “nhìn thấy” nhau lại có thể là cả một hành trình dài dằng dặc và chất chứa biết bao đau đớn.

Tôi từng ngỡ mình sinh ra đã biết yêu thương, tôi yêu cha mẹ, tôi yêu bạn bè. Thậm chí, tôi từng viết trong cuốn tiểu thuyết của chính mình một câu nói đầy lạc quan: “Đã thích rồi thì sẽ chẳng thấy nhọc nhằn”.

Thế nhưng trên thực tế, thế giới ngôn tình màu hồng đã giản lược đi biết bao sự phức tạp của nhân tính. Ở thế giới thực tại này, hai con người bằng xương bằng thịt với đủ thứ hỉ nộ ái ố, chẳng khác nào hai bánh răng cưa khác biệt về khớp rãnh đang gắng gượng ăn khớp vào nhau. Muốn yêu nhau dài lâu, thì lương tri, dũng khí, trí tuệ và sự kiên trì, tuyệt nhiên chẳng thể thiếu đi bất cứ điều gì. Chỉ cần khuyết thiếu một điều thôi, tình yêu ấy cũng đã trở nên vô cùng nhọc nhằn, cay đắng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *